TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 239/2024/DS-PT Ngày 30 tháng 9 năm 2024 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi, vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Huỳnh Thanh Tâm
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ngọc Giao;
Bà Trịnh Ngọc Thúy;
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trường San, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2023/TLPT-DS ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi, hợp đồng vay tài sản”;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 116/2023/QĐXX-PT ngày 26 tháng 4 năm 2023, Thông báo mở lại phiên tòa số 129/TB-TA ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Quý H, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B (Tám Búa), sinh năm 1967; bà Lê Thị B1, sinh năm 1971; cùng địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Nguyễn Thanh T, Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt);
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn B (Tám B2), sinh năm 1967; bà Lê Thị B1, sinh năm 1971; cùng địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Phan Thị Quý H trình bày:
Bà là chủ dây hụi khui ngày 09/7/2019 (âl); loại hụi 5.000.000 đồng/tháng; hụi có 24 phần, bà B1 tham gia 01 phần, tên trong sổ hụi là “8 Búa”. Hụi khui lần thứ nhất thì bà B1 bỏ hụi và hốt được số tiền 86.400.000 đồng, khi giao tiền hụi bà có làm biên nhận cho vợ chồng bà Lê Thị B1 và ông Nguyễn Văn B ký tên nhận tiền. Tuy nhiên, sau khi hốt hụi xong thì bà B1 không đóng lại hụi chết cho đến khi hụi mãn. Do đó, bà Lê Thị Bích N lại bà tiền hụi chết là 115.000.000 đồng (tương đương 23 lần đóng hụi x 5.000.000 đồng/lần).
Bà H có tham gia các dây hụi do bà B1 làm chủ nhưng bà B1 vỡ hụi và không giao tiền hụi cho bà, cụ thể như sau:
- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/5/2019, có 23 phần, bà H tham gia 4 phần, tên trong sổ hụi là “Phi Hiền”; bà H đã đóng được 9 lần x 4 phần, với tổng số tiền 26.600.000 đồng;
- Hụi 2.000.000 đồng/tháng; khui ngày 04/4/2018, có 25 phần, bà H tham gia 01 phần, tên trong sổ hụi là “H”, bà H đã đóng được 23 lần với số tiền 30.510.000 đồng;
- Hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 20/01/2019, có 22 phần, bà H tham gia 02 phần, tên trong sổ là “Phi Hiền”, bà H đóng được 13 lần x 2 phần, với số tiền 39.000.000 đồng;
- Hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/12/2018, có 24 phần, bà H tham gia 02 phần, tên trong sổ là “Phi Hiền”, bà H đóng được 13 lần x 2, số tiền 36.900.000 đồng;
Trong thời gian chơi hụi, bà B1 có kêu bán cho bà 0 phần hụi với số tiền 123.360.000 đồng, bà giao tiền cho bà B1 và bà B1 có làm biên nhận nhận tiền. Nhưng đến nay do vỡ hụi nên bà chưa nhận lại được số tiền này.
Ngoài ra, bà B1 còn vay của bà H số tiền 66.000.000 đồng để mua phân bón, có làm biên nhận do bà H viết, bà B1 ký tên, biên nhận không hẹn thời gian trả và lãi suất nhưng thỏa thuận miệng lãi suất 3%/tháng, hẹn tới cắt lúa là khoảng 01 tháng sẽ trả đủ nhưng đến nay bà B1 vẫn chưa trả.
Bà H yêu cầu ông B và bà B1 liên đới trả tổng số tiền 439.470.000 đồng, đối với tiền mua bán hụi và tiền vay yêu cầu tính lãi theo quy định.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:
Bà H có tham gia các dây hụi do bà B1 làm chủ, cụ thể:
- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/5/2019, có 23 phần, bà H tham gia 4 phần, tên trong sổ hụi là “Phi Hiền”; bà H đóng được 9 lần x 4 phần, với tổng số tiền 26.600.000 đồng;
- Hụi 2.000.000 đồng/tháng; khui ngày 04/4/2018, có 25 phần, bà H tham gia 01 phần, tên trong sổ hụi là “H”, đóng được 23 lần với số tiền 30.510.000 đồng;
- Hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 20/01/2019, có 22 phần, bà H tham gia 02 phần, tên trong sổ là “Phi Hiền”, dây hụi này bà H đã hốt hết và còn phải đóng lại cho bà B1 9 lần với số tiền là 36.000.000 đồng nhưng chưa đóng.
- Hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/12/2018, có 24 phần, bà H tham gia 02 phần, tên trong sổ là “Phi Hiền”, đóng được 13 lần x 2, số tiền 36.900.000 đồng;
Ngoài ra, bà B1 có tham gia hụi do bà H làm chủ, loại hụi 5.000.000 đồng/tháng khui ngày 09/7/2019, có 24 phần, bà B1 tham gia 01 phần, hốt được số tiền 85.100.000 đồng, còn nợ hụi chết chưa đóng, nay xin trả đủ lại số tiền 85.100.000 đồng.
Đối với các khoản tiền mua bán hụi và tiền vay như bà H trình bày thì bà B1 không có mua bán hụi hay vay tiền, ông cũng không nghe bà B1 nói việc này nên không đồng ý theo yêu cầu của bà H.
- Bị đơn là bà Lê Thị B1 vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại Bản án số 08/2023/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phan Thị Quý H.
Buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị B1 có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn là bà Phan Thị Quý H số tiền 236.010.000 (hai trăm ba mươi sáu triệu không trăm mười nghìn) đồng.
Buộc bị đơn là bà Lê Thị B1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là bà Phan Thị Quý H số tiền 215.199.660 (hai trăm mười lăm triệu một trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm sáu mươi) đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, nghĩa vụ do chậm thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 01/3/2023, bị đơn ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị B1 kháng cáo bản án sơ thẩm, không thống nhất với bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Phan Thị Quý H: xác định lại yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà B1 và ông B trả nợ hụi và tiền vay, cụ thể:
Hụi do bà H làm chủ: hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 09/7/2019 (âm lịch), bà B1 tham gia 01 phần, tên trong sổ hụi là “8 Búa”. Bà B1 đã hốt hụi xong, đóng hụi chết được 7 lần, số tiền 35.000.000 đồng, còn nợ lại 17 lần góp hụi x 5.000.000 đồng, số tiền nợ hụi là 85.000.000 đồng.
Hụi do bà B1 làm chủ:
- Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/5/2019, có 23 phần. Bà H tham gia 4 phần, tên trong sổ hụi là “Phi Hiền”; đã đóng được 9 lần x 4 phần, với tổng số tiền 26.600.000 đồng; Bà B1 và ông B còn nợ tiền hụi 26.600.000 đồng (hai mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng; khui ngày 04/4/2018, 25 phần, Bà B1 và ông B còn nợ: 30.510.000 đồng.
- Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/12/2018, có 24 phần, bà B1 và ông B còn nợ số tiền 36.600.000 đồng.
- Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 20/01/2019, tổng cộng 22 phần, bà H tham gia 02 phần, tên trong sổ là “Phi Hiền”, bà H đóng được 12 lần; lần khui hụi thứ 13 (ngày 20/01/2020 âm lịch), bà H hốt hụi nhưng bà B1 không giao tiền, không nhớ số tiền hốt hụi là bao nhiêu. Bà B1 còn nợ số tiền bà H đã góp hụi là 36.000.000 đồng.
Tiền mua hụi: bà H mua 04 phần hụi của bà B1 là dây hụi 2.000.000 đồng, 22 phần, mở hụi ngày 20/01/2019 âm lịch. Trong đó: Loan Chị 01 phần, Loan Em 01 phần, bà B1 02 phần. Số tiền mua hụi bà B1 còn nợ là 123.360.000 đồng.
Tiền vay: Số tiền 66.000.000 đồng thể hiện trong Biên nhận ngày 24/02/2019 (âm lịch) phát sinh từ việc bà B1 chơi hụi của bà Tám T1, do không mượn hụi được nên bán lại cho H, sau khi tính sổ số tiền bà B1 thiếu là 66.000.000 đồng nên bà B1 có làm biên nhận ngày 24/02/2019 (âm lịch).
- Bị đơn bà B1 thừa nhận nợ bà H các dây hụi gồm:
- Hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 09/7/2019 (âm lịch) do bà H làm chủ, Bà bích còn nợ hụi chết 85.000.000 đồng.
- Các dây hụi do bà B1 làm chủ gồm: Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/5/2019, nợ 26.600.000 đồng; dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 04/4/2018, còn nợ 30.510.000 đồng; dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/12/2018, còn nợ 36.600.000 đồng.
Đối với dây hụi 2.000.000 đồng/tháng (Hụi do bà B1 làm chủ), mở ngày 20/01/2019, tổng cộng 22 phần, H tham gia 02 phần đã hốt hụi 02 phần, nhưng chưa góp hụi chết, còn nợ lại bà B1 9 lần góp hụi chết, 2.000.000 đồng/ phần x 2 phần, số tiền H nợ lại là: 36.000.000 đồng.
Đối với việc mua bán hụi, bà B1 xác định không bán hụi cho bà H mà do H mua 02 phần hụi của L Chị và L Em trong dây hụi 2.000.000 đồng mở hụi ngày 20/01/2019. Khi Loan C và L Em bán hụi cho H, bà B1 có tính tiền giùm, cụ thể: Giấy tính tiền hụi ghi Hội 20/1/2019, 22 phần số tiền 30.200.000 đồng; giấy tính tiền hụi số tiền 31.480.000 đồng. Chữ viết và chữ số là do bà B1 ghi nhưng không ký tên.
Về tiền vay, bà B1 xác định không nợ H 66.000.000 đồng. Biên nhận ngày 24/2/2019 âm lịch do H cung cấp không phải chữ ký của bà B1.
- Ông B khai thống nhất với bà B1. Việc chơi hụi giữa bà B1 và H ông không tham gia nhưng có ký tên trong biên nhận kiêm giấy giao hụi ngày 09/7/2019 (âm lịch);
Bà B1, ông B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo chỉ thừa nhận nợ hụi của H là 144.200.000 đồng.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Không có căn cứ xác định bị đơn nợ bà H tiền vay và tiền mua hụi như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm, xác định bị đơn nợ bà H tiền hụi là 144.200.000 đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Do cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc mua bán hụi giữa bà H với bà B1 hay với L Chị, Loan E; số tiền 66.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 09/7/2019 âm lịch là tiền vay hay tiền hụi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông B, bà B1 kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Theo lời khai của nguyên đơn bà H, bị đơn bà B1 và ông B trong năm 2018 và 2019, bà H có tham gia chơi nhiều dây hụi do bà B1 là chủ. Đến khoảng tháng 2/2020 âm lịch thì bà B1 bị vỡ hụi, còn nợ bà H tiền hụi. Ngoài ra, cũng trong năm 2019, bà B1 có tham gia 01 dây hụi do bà H làm chủ, đã mượn hụi nhưng không góp đủ và còn nợ bà H tiền hụi, đã được các bên thống nhất như sau:
- Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/5/2019, có 23 phần. Bà H tham gia 4 phần, tên trong sổ hụi là “Phi Hiền”; đã đóng được 9 lần x 4 phần, với tổng số tiền 26.600.000 đồng; bà B1 và ông B còn nợ tiền hụi 26.600.000 đồng.
- Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng; khui ngày 04/4/2018, 25 phần. Bà H tham gia 01 phần, tên trong sổ hụi là N1 (vợ B3), bà H đã đóng được 23 lần với số tiền 30.510.000 đồng; bà B1 và ông B còn nợ: 30.510.000 đồng.
- Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/12/2018, có 24 phần; H tham gia 02 phần, tên trong sổ là “Phi Hiền”, bà H đóng được 13 lần x 2 phần, số tiền 36.900.000 đồng. Qua đối chất, bà H thống nhất bà B1 và ông B còn nợ số tiền 36.600.000 đồng.
Đối với dây hụi 5.000.000 đồng (do bà H làm chủ), khui ngày 09/7/2019 (âm lịch), có 24 phần, bà B1 đã hốt hụi nhưng không góp đầy đủ. Qua đối chất ngày 16/9/2024, các bên thống nhất số tiền bà B1, ông B nợ là 85.000.000 đồng.
Tại cấp sơ thẩm, do bà B1 vắng mặt, không cung cấp lời khai và Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập được lời khai của bà B1 cũng như đối chất làm rõ số tiền của dây hụi 5.000.000 đồng ngày 09/7/2019 âm lịch do H là chủ nên đã căn cứ vào biên nhận giao hụi do bà H cung cấp để xác định ông B, bà B1 nợ tiền hụi là 115.000.000 đồng. Bà B1 và ông B kháng cáo cho rằng chỉ còn nợ 85.100.000 đồng. Tuy nhiên qua đối chất các bên thống nhất bà B1 và ông B nợ số tiền hụi 85.000.000 đồng. Đây là sự thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật nên được công nhận.
[2.2] Đối với dây hụi 2.000.000 đồng/tháng (Hụi do bà B1 làm chủ), mở ngày 20/01/2019, tổng cộng 22 phần.
Bà H khai tham gia 02 phần, góp hụi được 12 lần, mỗi lần trung bình 1.500.000 đồng x 2 phần, với số tiền 36.000.000 đồng; đến kỳ khui hụi thứ 13 (ngày 20/01/2020 âm lịch) H hốt hụi nhưng bà B1 không giao tiền nên yêu cầu bà B1 trả vốn hụi đã góp là 36.000.000 đồng. Bà H cung cấp bản photo Sổ hụi ngày 20/01/2019 âm lịch. Bà H khai mượn sổ hụi của ông Ba C1 có tham gia chơi hụi trong dây hụi này, sổ hụi ghi tên chị 3 C1. Trong sổ hụi thể hiện tại mục số 11 và 12 (tên hụi viên Phi H1) có ghi số tiền bỏ hụi ngày 20/01/2019 là 720 (tức là 720.000 đồng); số tiền bỏ hụi ngày 20/12/2019 là 700 (tức là 700.000 đồng).
Bà B1 thì khai bà H1 đã hốt (mượn hụi) cả 02 phần hụi, bà đã giao tiền hụi cho H1 tại giấy tính tiền giao hụi lần khui ngày 20/12/2019 ghi tên Hiền L1 (Búc lục 90), số tiền giao hụi là 32.700 (tức là 32.700.000 đồng). Người nhận tiền là H2, có ký tên nhận số tiền 22.700.000 đồng (do trừ số tiền 10.000.000 đồng H2 nhận trước đó) H2 là em của H1. Lần mở hụi thứ 13 (ngày 20/01/2020), H1 bỏ hụi 720.000 đồng, số tiền mượn hụi là 36.500.000 đồng. Sau đó, H1 không đóng hụi chết, còn nợ lại 9 lần góp hụi chết, 2.000.000 đồng/ phần x 2 phần, số tiền H1 nợ lại là: 36.000.000 đồng.
Xét tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp, thấy rằng: Theo sổ hụi do bà H1 cung cấp đã thể hiện bà H1 đã góp hụi (sống) được 11 lần, số tiền vốn góp cao nhất là 1.500.000 đồng (bỏ hụi 500.000 đồng, hụi 2.000.000 đồng), thấp nhất là 1.280.000 đồng (bỏ hụi 720.000 đồng). Do đó, lời khai của bà H1 về việc góp hụi trung bình 1.500.000 đồng để cho rằng bà B1 nợ 12 lần tiền góp của 02 phần hụi sống số tiền 36.000.000 đồng là không chính xác.
Đối chiếu với lời khai của bà B1 xác định bà H1 đã hốt hụi là phù hợp. Tuy nhiên, bà B1 cho rằng đã giao tiền hụi cho H1 theo 02 giấy tính tiền hụi do bà B1 cung cấp là không đủ căn cứ. Bởi vì, giấy tính tiền giao hụi lần khui ngày 20/12/2019 ghi tên Hiền L1 (do bà B1 cung cấp), thể hiện số tiền giao hụi là 32.700 (tức là 32.700.000 đồng). Nhưng người nhận tiền là H2, không phải bà H1 và số tiền nhận 22.700.000 đồng là không phù hợp. Bà H1 khai người tên H2 là em của H1 nhưng đã chết. Do đó, không có căn cứ xác định bà H1 đã nhận số tiền hốt hụi ngày 20/12/2019 như bà B1 khai.
Đối với giấy tính tiền giao hụi ghi tên H1 Leo đề ngày 20/11/2019 do bà B1 cung cấp (có dấu hiệu xóa, sửa ở phần ngày, tháng); Số tiền 36.500 (tức là 36.500.000 đồng). Tại biên bản đối chất ngày 16/9/2024, bà B1 cung cấp giấy tính tiền cũng với số tiền 36.500.000 đồng nhưng lại có dấu hiện tẩy xóa nhiều chỗ so với giấy tính tiền ông B (chồng bà B1) cung cấp tại cấp sơ thẩm, cụ thể: tại phần ghi: “25 phần”, sửa lại là “22 phần”; ngày “20/11/2019” sửa thành “20/1/2019”; chữ : “12 chết” sửa thành “10 chết”; “12 sống” sửa thành “11 sống”.
Ngoài ra, theo sổ hụi do bà H1 cung cấp cũng chưa thể hiện đầy đủ, cụ thể số tiền hụi bà H1 đã góp cho bà B1. Do sổ hụi này bà H1 khai mượn từ ông ba C1 là thành viên tham gia chơi hụi cùng bà H1, cần phải thu thập thêm chứng cứ để xác định chính xác số tiền bà H1 đã góp hụi cho bà B1 là bao nhiêu, bà H1 đã mượn hụi hay chưa, số tiền là bao nhiêu mới có thể giải quyết đúng quy định của pháp luật. Cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.
[2.3] Đối với số tiền mua hụi, bà H1 khai, bà B1 có bán cho bà H1 04 phần hụi (trong dây hụi 2.000.000 đồng, 22 phần, mở hụi ngày 20/01/2019 âm lịch) với số tiền 123.360.000 đồng. Bà B1 có ký nhận trong các giấy tính tiền. Sau khi ngưng hụi (vỡ hụi) bà B1 chưa trả lại. Trong 4 phần hụi bà H1 mua có 01 phần hụi của L Chị; 01 phần hụi của Loan E; 02 phần hụi của bà B1. Bà H1 cung cấp kèm theo đơn khởi kiện các giấy tính tiền tại các bút lục số 15: số tiền 30.200.000 đồng và 30.200.000 đồng; bút lục số 14 số tiền 31.480.000 đồng và 41.000.000 đồng, bà H1 khai bà B1 có ký tên trong các giấy tính tiền trên.
Tại biên bản đối chất ngày 16/9/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm, bà B1 khai không bán hụi cho H1 mà H1 mua 02 phần hụi của L Chị và L Em trong dây hụi 2.000.000 đồng mở hụi ngày 20/01/2019 (22 phần). Khi Loan C và L Em bán hụi cho H1, bà B1 có tính tiền giùm, cụ thể: Giấy tính tiền hụi ghi Hội 20/1/2019, 22 phần số tiền 30.200.000 đồng; giấy tính tiền hụi số tiền 31.480.000 đồng. Chữ viết và chữ số là do bà B1 ghi nhưng không ký tên.
Xét thấy, các đương sự đều khai dây hụi 2.000.000 đồng mở ngày 20/01/2019 gồm 22 phần có L Chị và L Em tham gia. Lời khai của bà H1 và bà B1 không thống nhất nhau về việc mua bán hụi, tuy nhiên các bên xác định H1 có mua 02 phần hụi của L Chị và Loan E, các giấy tính tiền hụi do bà H1 cung cấp nội dung không thể hiện cụ thể, rõ ràng bên bán hụi, bên mua hụi, người nhận tiền và cũng không ghi cụ thể thời gian giao nhận tiền và quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc mua bán hụi. Do đó, không đủ cơ sở xác định bên bán hụi là L Chị, L Em hay bà B1. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Loan C, L Em là người tham gia chơi hụi vào tham gia tố tụng để làm rõ việc mua bán hụi giữa các bên là có thiếu sót. Tuy nhiên, do tại cấp sơ thẩm bà B1 vắng mặt, không cung cấp lời khai, đến khi vụ án được giải quyết tại cấp phúc thẩm mới trình bày ý kiến nên thiếu sót trên không có lỗi của cấp sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị hủy bản án sơ thẩm là có căn cứ. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bà B1 và ông B hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ngoài ra, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần thu thập thêm chứng cứ xác định số tiền 66.000.000 đồng (theo giấy mượn tiền ngày 24/02/2019 âm lịch, nội dung: chị 8 Búa mượn của em H1 66.000.000 đồng) là tiền vay hay tiền hụi, chữ ký tên trong giấy mượn tiền có phải của bà B1 hay không. Bởi vì, tại phiên tòa phúc thẩm và tại biên bản đối chất ngày 16/9/2024, bà H1 khai do bà B1 chơi hụi của bà Tám T1, không mượn hụi được nên bán lại cho H1, sau khi tính sổ số tiền bà B1 thiếu là 66.000.000 đồng nên bà B1 có làm biên nhận ngày 24/2/2019 âm lịch. Trong khi đó, tại cấp sơ thẩm, bà H1 trình bày bà B1 vay của bà 66.000.000 đồng để mua phân bón.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên bị đơn kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại cho ông B, bà B1 tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310; khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị B1;
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DSST ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang;
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Lê Thị B1 và ông Nguyễn Văn B tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp, mỗi người là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011594 và số 0011593 ngày 15/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 239/2024/DS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi, vay tài sản
- Số bản án: 239/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi, vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng góp hụi
