|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 239/2024/DS-PT Ngày: 26-9-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thu Lan
Các Thẩm phán:
- Ông Lê Thọ Viên;
- Ông Nguyễn Khắc Vương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hưởng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Vĩnh Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai đối với vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 176/2024/KDTM-PT ngày 22/8/2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 52/2024/KDTM-ST ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4119/2024/KDTM-PT ngày 28/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 13256/2024/QĐ-PT ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Địa chỉ trụ sở chính: số H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Tầng A, số I đường C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Ngọc Quang H (có mặt)
Địa chỉ liên hệ: Tầng A, số I đường C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Công ty TNHH T
Địa chỉ: A P, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Khắc H1
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Đình Trí D (có mặt)
Địa chỉ: số F Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Khắc H1 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện T, Tỉnh Đồng Nai.
- Người kháng cáo: Công ty TNHH T
Địa chỉ: A P, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Khắc H1
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Đình Trí D (có mặt)
Địa chỉ: số F Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có người đại diện theo ủy quyền là ông Võ Ngọc Quang H trình bày:
Công ty TNHH T đã vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V – Chi nhánh G theo Hợp đồng vay hạn mức số: EGV/22094 ngày 25/3/2022 với hạn mức cho vay là 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng. Mục đích sử dụng vốn vay là bổ sung vốn lưu động phục vụ cho hoạt động bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng.
Nội dung Hợp đồng trên được thể hiện rõ trong khế ước nhận nợ được lập giữa ngân hàng và bị đơn. Cụ thể như sau:
- - Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022, số tiền vay là 1.398.600.000 đồng; thời hạn vay là 06 tháng; ngày giải ngân là ngày 22/9/2022, ngày đến hạn là ngày 20/3/2023; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 18,1%/năm điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần. Chuyển nợ quá hạn là ngày 20/3/2023.
- - Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022, số tiền vay là 619.293.600 đồng; thời hạn vay là 06 tháng; ngày giải ngân là ngày 02/11/2022, ngày đến hạn là ngày 02/5/2023; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 20,2%/năm điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần. Chuyển nợ quá hạn là ngày 02/5/2023.
Toàn bộ khoản vay được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Lê Khắc H1 theo Hợp đồng bảo lãnh số: EGV/22094/HDBL ngày 25/3/2022 giữa nguyên đơn và ông Lê Khắc H1.
Trong quá trình sử dụng vốn vay, bị đơn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ và làm việc với bị đơn để yêu cầu hoàn trả nợ vay nhưng bị đơn cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần V khởi kiện yêu cầu bị đơn là Công ty TNHH T phải thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số tiền nợ quá hạn, tạm tính đến hết ngày 21/6/2024 là 2.833.541.697 đồng (trong đó, nợ gốc là 2.017.891.873 đồng, nợ lãi trong hạn là 42.106.270 đồng, nợ lãi quá hạn là 768.472.113 đồng, nợ lãi chậm trả là 5.071.441 đồng); cụ thể:
- + Đối với Khế ước nhận nợ số 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022 (Quá hạn 460 ngày kể từ ngày 20/3/2023) là 1.975.510.102 đồng, trong đó: Nợ gốc là 1.398.598.273 đồng, lãi trong hạn là 22.149.873 đồng, lãi quá hạn là 551.970.464 đồng, lãi chậm trả là 2.791.491 đồng.
- + Đối với Khế ước nhận nợ số 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022 (Quá hạn 417 ngày kể từ ngày 02/5/2023) là 858.031.595 đồng, trong đó: Nợ gốc là 619.293.600 đồng, lãi trong hạn là 19.956.396 đồng, lãi quá hạn là 216.501.649 đồng, lãi chậm trả là 2.279.950 đồng.
Ngoài ra, Công ty TNHH T phải thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 22/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp Công ty TNHH T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì ông Lê Khắc H1 phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký số: EGV/22094/HDBL ngày 25/3/2022.
* Bị đơn là Công ty TNHH T và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Bị đơn có ký Hợp đồng vay hạn mức số: EGV/22094 ngày 25/3/2022 để vay vốn với hạn mức cho vay là 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng; mục đích sử dụng vốn vay là bổ sung vốn lưu động phục vụ cho hoạt động bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng cùng 02 Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022 và Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022 như nguyên đơn đã trình bày. Bị đơn xác nhận hiện nay còn nợ nguyên đơn tổng số tiền gốc là 2.017.891.873 đồng đối với 02 kế ước nhận nợ nêu trên cùng số tiền lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, nợ lãi chậm trả đúng như nguyên đơn đã trình bày. Đồng thời thừa nhận bị đơn có thỏa thuận với nguyên đơn về việc đề nghị nguyên đơn giải ngân khoản vay theo 02 khế ước nhận nợ nêu trên để thanh toán tiền hàng của bị đơn cho bên thứ ba là Công ty TNHH X. Bị đơn đồng ý giải quyết khoản nợ nêu trên theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Khắc H1 đã vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu của người khởi kiện.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 52/2024/KDTM-ST ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V:
Buộc bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 21/6/2024 là 2.833.541.697 (hai tỷ tám trăm ba mươi ba triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm chín mươi bảy) đồng (trong đó, nợ gốc là 2.017.891.873 đồng, nợ lãi trong hạn là 42.106.270 đồng, nợ lãi quá hạn là 768.472.113 đồng, nợ lãi chậm trả là 5.071.441 đồng); cụ thể:
- + Đối với Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022 là 1.975.510.102 đồng, trong đó: Nợ gốc là 1.398.598.273 đồng, lãi trong hạn là 22.149.873 đồng, lãi quá hạn là 551.970.464 đồng, lãi chậm trả là 2.791.491 đồng.
- + Đối với Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022 là 858.031.595 đồng, trong đó: Nợ gốc là 619.293.600 đồng, lãi trong hạn là 19.956.396 đồng, lãi quá hạn là 216.501.649 đồng, lãi chậm trả là 2.279.950 đồng.
Phương thức và thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ Hợp đồng vay hạn mức số: EGV/22094 ngày 25/3/2022; Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022 và Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Khắc H1 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thanh toán hết số nợ nói trên của bị đơn cho đến khi dứt nợ theo Hợp đồng bảo lãnh số: EGV/22094/HDBL ngày 25/3/2022.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 26/6/2024, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 52/2024/KDTM-ST ngày 21/6/2024 với lý do: cấp sơ thẩm chưa xem xét toàn diện nội dung bản chất của vụ án, sự thật khách quan chưa được làm sáng tỏ, lãi suất trong bản án gây thiệt hại kinh tế cho bị đơn, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm, làm rõ sự thật khách quan của vụ án, trả lại công bằng, lẽ phải cho bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T xác định yêu cầu kháng cáo: đề nghị xem xét lại lãi suất quá hạn, giảm lãi cho bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về việc chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Thụ lý đúng thẩm quyền; thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn mở phiên tòa đúng theo quy định tại Điều 286 Bộ luật Tố tụng dân sự; chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định tại Điều 290 và Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định tại Điều 296, đến Điều 298; Điều 301 đến 303, Điều 305 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đúng quy định của pháp luật nên không có căn cứ để hủy bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 52/2024/KDTM-ST ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T còn trong thời hạn luật định nên được xem xét chấp nhận.
[2]. Về nội dung:
Trong Đơn kháng cáo ghi ngày 26/6/2024, bị đơn yêu cầu hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 52/2024/KDTM-ST ngày 21/6/2024 để xem xét lại toàn diện nội dung bản chất của vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét lại lãi suất quá hạn, sửa bản án sơ thẩm.
Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:
Theo Hợp đồng vay hạn mức số: EGV/22094 ngày 25/3/2022; Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022 và Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022 cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời khai và sự thừa nhận của các đương sự có cơ sở xác định Công ty Trách nhiệm hữu hạn T đã được Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cấp tín dụng với hạn mức cho vay là 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng, với thời hạn vay và mức lãi suất áp dụng được thể hiện theo từng khế ước nhận nợ đối với từng lần giải ngân như sau:
- - Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022, số tiền vay là 1.398.600.000 đồng; thời hạn vay là 06 tháng; ngày giải ngân là ngày 22/9/2022, ngày đến hạn là ngày 20/3/2023; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 18,1%/năm, điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần.
- - Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022, số tiền vay là 619.293.600 đồng; thời hạn vay là 06 tháng; ngày giải ngân là ngày 02/11/2022, ngày đến hạn là ngày 02/5/2023; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 20,2%/năm, điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần.
Nguyên đơn đã thực hiện việc giải ngân và bị đơn đã nhận đủ tiền vay đúng theo 02 Khế ước nêu trên.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ theo Hợp đồng tín dụng số EGV/22094 ngày 25/3/2022, Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022 và Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022 là đúng theo thỏa thuận của các bên và phù hợp quy định pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tính nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn và nợ lãi chậm trả căn cứ vào mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng vay hạn mức số: EGV/22094 ngày 25/3/2022, Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022 và Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền Công ty Trách nhiệm hữu hạn T còn phải trả cho ngân hàng tính đến hết ngày 21/6/2024 là 2.833.541.697 đồng (trong đó, nợ gốc là 2.017.891.873 đồng, nợ lãi trong hạn là 42.106.270 đồng, nợ lãi quá hạn là 768.472.113 đồng, nợ lãi chậm trả là 5.071.441 đồng) là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng nguyên đơn không thực hiện việc thông báo khi điều chỉnh lãi suất hàng tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng và khế ước đã ký nhưng nguyên đơn chứng minh đã thực hiện thông báo điều chỉnh lãi suất hàng tháng theo đúng thỏa thuận.
Xét thấy, lý do kháng cáo của bị đơn không có căn cứ pháp luật nên không có cơ sở để chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm. Đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do không được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên Công ty Trách nhiệm hữu hạn T phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T.
Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 52/2024/KDTM-ST ngày 21/6/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V:
Buộc bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 21/6/2024 là 2.833.541.697 (hai tỷ tám trăm ba mươi ba triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm chín mươi bảy) đồng (trong đó, nợ gốc là 2.017.891.873 đồng, nợ lãi trong hạn là 42.106.270 đồng, nợ lãi quá hạn là 768.472.113 đồng, nợ lãi chậm trả là 5.071.441 đồng); cụ thể:
- Đối với Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022 là 1.975.510.102 đồng, trong đó: Nợ gốc là 1.398.598.273 đồng, lãi trong hạn là 22.149.873 đồng, lãi quá hạn là 551.970.464 đồng, lãi chậm trả là 2.791.491 đồng.
- Đối với Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022 là 858.031.595 đồng, trong đó: Nợ gốc là 619.293.600 đồng, lãi trong hạn là 19.956.396 đồng, lãi quá hạn là 216.501.649 đồng, lãi chậm trả là 2.279.950 đồng.
Phương thức và thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ Hợp đồng vay hạn mức số: EGV/22094 ngày 25/3/2022; Khế ước nhận nợ số: 220922-5739261-ONL-2 ngày 22/9/2022 và Khế ước nhận nợ số: 021122-5739261-ONL-3 ngày 02/11/2022 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Khắc H1 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thanh toán hết số nợ nói trên của bị đơn cho đến khi dứt nợ theo Hợp đồng bảo lãnh số: EGV/22094/HDBL ngày 25/3/2022.
2. Về án phí:
- - Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T phải chịu 88.670.834 (tám mươi tám triệu sáu trăm bảy mươi nghìn tám trăm ba mươi bốn) đồng.
- H2 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền tạm ứng án phí 39.224.006 (ba mươi chín triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn không trăm linh sáu) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2023/0012709 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T phải chịu 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 2.000.000 (Hai triệu) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014148 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T đã nộp đủ tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Thị Thu Lan |
Bản án số 239/2024/DS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 239/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khiếu kiện hành chính
