TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 239/2024/HS-ST Ngày: 26-09-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lý
Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 09 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 240/2024/HSST ngày 04/09/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2024/QĐXXST-HS ngày 11/09/2024 đối với các bị cáo:
1/ Lê Trung H; Giới tính: Nam; sinh ngày 31/05/2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: A T, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: ấp P, xã L, huyện B, tỉnh Long An; Trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Tiết Phước B và bà Lê Thị Huỳnh H1; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HSST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xử phạt Lê Trung H 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/10/2023 bị cáo Lê Trung H đã chấp hành xong hình phạt tù và đã hoàn thành xong nghĩa vụ đóng án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 03/01/2024 (có mặt).
2/ Trần Trọng H2; Giới tính: Nam; sinh ngày 04/10/2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 1 M, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: B T, Khu phố B, Tổ E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Hải L và bà Nguyễn Thị Thanh T; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2022/HSST ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trần Trọng H2 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 15/12/2023 bị can Trần Trọng H2 đã chấp hành xong hình phạt tù và đã hoàn thành xong nghĩa vụ đóng án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 03/01/2024 (có mặt).
Bị hại: Anh Lê Văn P, sinh năm 2003; địa chỉ: 4 P, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 03/01/2024, Lê Trung H rủ Trần Trọng H2 đi cướp giật tài sản thì Trần Trọng H2 đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen chở Lê Trung H ngồi sau đi tìm kiếm tài sản của người đi đường sơ hở để cướp giật. Khi đến trước nhà địa chỉ số F đường H, Phường E, quận G thì Lê Trung H nhìn thấy anh Lê Văn P đang đi bộ trên đường trên tay đang cầm điện thoại di động nên nói với Trần Trọng H2 “quay lại để tao giật chiếc điện thoại” thì Trần Trọng H2 liền điều khiển xe quay lại phía sau áp sát người anh P để Lê Trung H giật được chiếc điện thoại rồi tăng ga xe chạy tẩu thoát thì anh P tri H3 “ Cướp, cướp” và đuổi theo. Trần Trọng H2 điều khiển xe đến trước nhà địa chỉ số D đường P, Phường E, quận G nhưng do không làm chủ được tay lái nên bị té xe ngã xuống đường thì bị anh P và người dân đi đường hỗ trợ bắt được Lê Trung H và Trần Trọng H2 cùng tang vật giao Công an P1, quận G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. (BL: 150-152)
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G Lê Trung H và Trần Trọng H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, có ốp lưng dán hình con mèo.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận G kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 11 nêu trên có trị giá 4.766.667 đồng (bốn triệu bảy trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng chẵn). Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho anh Lê Văn P là người bị hại trong vụ án. (BL: 63-68)
- 01 xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda Wave biển số: 59E2 – 276.71 số máy: JA70E - 0029519; số khung: RLHJA3936PY607838 (thu giữ của Lê Trung H sử để đi cướp giật tài sản). Qua xác minh xe này do Lê Trung H đứng tên chủ sở hữu xe;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu tím (thu giữ của bị cáo Trần Trọng H2).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã nhập kho vật chứng số vật chứng nêu trên theo Phiếu nhập kho số 22/PNK ngày 07/02/2024.(BL: 71)
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Văn P là người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 257/Ctr-VKS ngày 28/08/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố các bị cáo Lê Trung H và Trần Trọng H2 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử áp điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Lê Trung H mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Trần Trọng H2 mức án 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 59E2 – 276.71.
- Trả lại cho bị cáo Trần Trọng H2 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu tím.
- Miễn phạt bổ sung đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo Lê Trung H và Trần Trọng H2 đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng các bị cáo Lê Trung H và Trần Trọng H2 đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo sử dụng phương tiện xe gắn máy để đi cướp giật là dùng thủ đoạn nguy hiểm để phạm tội, vì hành vi này có thể xâm hại đến sức khỏe tính mạng của người bị hại và chính bản thân của các bị cáo, có thể gây ra tai nạn làm chết người, gây mất trật tự an toàn giao thông, mặt khác bị cáo Trọng H2 có 01 tiền án về tội cướp giật tài sản chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội cướp giật tài sản lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm, nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trung H theo điểm d khoản 2 Điều 171 và bị cáo Trọng H2 theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có cơ sở và phù hợp với qui định của pháp luật. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, bị cáo Trung H rủ bị cáo Trọng H2 đi cướp giật tài sản, bị cáo Trọng H2 chở bị cáo Trung H thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bị cáo Trọng H2 chạy xe áp sát vào bị hại, để bị cáo Trung H dùng tay phải giật điện thoại di động hiệu Iphone 11 của bị hại là anh Lê Văn P, bị cáo Trung H có 01 tiền án chưa được xóa án tích lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng được qui định tại điểm h khoản 1 điều 52 của bộ luật hình sự đối với bị cáo Trung H.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, giữa nơi công cộng đông người qua lại các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất táo bạo và liều lĩnh bất chấp hậu quả xảy ra, qua đó thể hiện ý thức của các bị cáo rất xem thường pháp luật, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Trung H và Trọng H2: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản các bị cáo cướp giật đã được thu hồi trả lại cho bị hại, để giảm nhẹ một phần hình phạt lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị hại ông Lê Văn P vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện ông P đã nhận lại tài sản bị cướp giật và không có yêu cầu gì thêm nên không đưa ra xem xét lại.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 59E2 – 276.71 qua xác minh do bị cáo Lê Trung H đứng tên chủ sở hữu, bị cáo H xử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi cướp giật, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nhà nước.
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A14 của bị cáo Trọng H2 là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch trả lại cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Lê Trung H và Trần Trọng H2 phạm tội “Cướp giật tài sản”;
Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Trần Trọng H2 04(bốn) năm 03(ba) tháng tù.
- Thời hạn tù tính kể từ ngày 03/01/2024.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Lê Trung H 04(bốn) năm tù.
- Thời hạn tù tính kể từ ngày 03/01/2024.
Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 59E2 – 276.71 số máy: JA70E - 0029519; số khung: RLHJA3936PY607838.
- Trả lại cho bị cáo Trần Trọng H2 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu tím.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 22/PNK, ngày 07/02/2024 của cơ quan cảnh cảnh sát điều tra Công an quận G).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỒI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tường Linh |
Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - cướp giật tài sản
- Số bản án: 239/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Trung H1 và Trần Trọng H2 phạm tội “Cướp giật tài sản”
