Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 239/2024/DSST

Ngày 09/9/2024

V/v: Yêu cầu xóa đăng ký bảo đảm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Thụy
  • 2. Bà Lưu Thị Kim Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Đào Linh Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 210/2024/TB-TLVA ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “Yêu cầu xóa đăng ký bảo đảm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2024/QĐST - DS ngày 13 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2024/QĐST-HPT ngày 26/8/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H (Tức Nữ H1), sinh năm: 1960; Ông Trần Văn T, Sinh năm: 1953; Cùng ĐKHKTT và nơi ở: Số 1, ngõ B, phố Đ, Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Quốc V và bà Nguyễn Thị S. (Có mặt)

- Bị đơn: Ngân hàng N; Địa chỉ trụ sở: Số B L, phường T, B, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V1 – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Trung T1 – PGĐ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Ngày 30/6/2021, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã xét xử bản án sơ thẩm số 86/2021/DS-ST về việc “Tranh chấp hủy văn bản công chứng” và ngày 20/06/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử bản án phúc thẩm số 277/2023/DS-PT về việc “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”. Bản án đã quyết định: “Văn bản công chứng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 002679.2015/HĐTCBL quyển số 03-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 15/12/2015 vô hiệu; Buộc Ngân hàng N phải trả lại bà H1, ông T “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881131, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00096.QSD Đ/1249.H, số HS: 23011001 do UBND huyện T cấp ngày 09/9/2003”.

Ngày 21/9/2023, thực hiện Bản án phúc thẩm nêu trên và Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 409/QĐ-CCTHADS-DS ngày 08/8/2023 của Chi cục THADS quận Đ, Ngân hàng N - Chi nhánh N1 đã trả lại cho bà H1 và ông Tam B gốc “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W881131, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00096.QSDĐ/1289.H, số HS: 23011001 do UBND huyện T cấp ngày 09/9/2003”.

Tuy nhiên, Văn phòng Đ - Chi nhánh quận H đã không chấp thuận xoá đăng ký thế chấp theo yêu cầu của người khởi kiện do Bản án phúc thẩm không tuyên “yêu cầu cơ quan đăng ký thực hiện xóa đăng ký” theo quy định tại điểm m Khoản 1 Điều 20 Nghị định 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 về đăng ký biện pháp bảo đảm. Bà H1 và ông T đã có Đơn đề nghị ngày 07/12/2023 gửi Ngân hàng N, đề nghị chấp thuận thực hiện thủ tục xóa đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản thế chấp tại Văn phòng Đ - Chi nhánh quận H. Tuy nhiên đến nay, bà H1 và ông T vẫn không nhận được sự chấp thuận của Ngân hàng N – Chi nhánh N1 về việc xóa đăng ký biện pháp bảo đảm đối với quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất.

Bà H1 và ông T đề nghị Tòa án tuyên bà Trần Thị H và ông Trần Văn T có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện xóa nội dung đăng ký biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 002679.2015/HĐTCBL quyển số 03-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 15/12/2015 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00096.QSD Đ/1249.H, số HS: 23011001 do UBND huyện T cấp ngày 09/9/2003 đứng tên chủ sử dụng là bà Trần Thị H và ông Trần Văn T theo quy định tại điểm m Khoản 1 Điều 20 Nghị định 99/2022/NĐ-CP.

Bị đơn: Ngân hàng N vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không có lời khai.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích vụ án, đại diện Viện kiểm sát căn cứ quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Trần Thị H và ông Trần Văn T có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký có thẩm quyền thực hiện xóa đăng ký biện pháp bảo đảm theo quy định tại Điểm m khoản 1 Điều 20 Nghị định 99/2022/NĐ-CP.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tố tụng:

Bà Trần Thị H và ông Trần Văn T khởi kiện Ngân hàng N về việc yêu cầu xóa đăng ký bảo đảm. Ngân hàng N có địa chỉ số B L, phường T, B, Hà Nội. Đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2]. Về nội dung:

Ngày 30/6/2021, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã xét xử bản án sơ thẩm số 86/2021/DS-ST về việc “Tranh chấp hủy văn bản công chứng” và ngày 20/06/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử bản án phúc thẩm số 277/2023/DS-PT về việc “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”. Bản án đã quyết định: “Văn bản công chứng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 002679.2015/HĐTCBL quyển số 03-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 15/12/2015 vô hiệu; Buộc Ngân hàng N phải trả lại bà H, ông T “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881131, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00096.QSD Đ/1249.H, số HS: 23011001 do UBND huyện T cấp ngày 09/9/2003”.

Ngày 21/9/2023, thực hiện Bản án phúc thẩm nêu trên và Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 409/QĐ-CCTHADS-DS ngày 08/8/2003 của Chi cục THADS quận Đ, Ngân hàng N - Chi nhánh N1 đã trả lại cho bà H và ông Tam B gốc “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W881131, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00096.QSDĐ/1289.H, số HS: 23011001 do UBND huyện T cấp ngày 09/9/2003”.

Bà Trần Thị H và ông Trần Văn T đề nghị Tòa án tuyên bà Trần Thị H và ông Trần Văn T có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện xóa nội dung đăng ký biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 002679.2015/HĐTCBL quyển số 03-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 15/12/2015 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00096.QSD Đ/1249.H, số HS: 23011001 do UBND huyện T cấp ngày 09/9/2003 đứng tên chủ sử dụng là bà Trần Thị H và ông Trần Văn T theo quy định tại điểm m Khoản 1 Điều 20 Nghị định 99/2022/NĐ-CP.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Bản án phúc thẩm số 277/2023/DS-PT ngày 20/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật, đã được thi hành án theo Quyết định thi hành án số 409/QĐ-CCTHADS-DS ngày 08/8/2003 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Đống Đa. Ngân hàng N - Chi nhánh N1 đã trả lại cho bà H và ông Tam B gốc “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W881131, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00096.QSDĐ/1289.H, số HS: 23011001 do UBND huyện T cấp ngày 09/9/2003". Tuy nhiên Ngân hàng N - Chi nhánh N1 không làm thủ tục xóa đăng ký bảo đảm cho bà H, ông T. Do đó, bà Trần Thị H và ông Trần Văn T có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện xóa nội dung đăng ký biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 002679.2015/HĐTCBL quyển số 03-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 15/12/2015 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00096.QSD Đ/1249.H, số HS: 23011001 do UBND huyện T cấp ngày 09/9/2003 đứng tên chủ sử dụng là bà Trần Thị H và ông Trần Văn T theo quy định tại điểm m Khoản 1 Điều 20 Nghị định 99/2022/NĐ-CP.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Áp dụng Điều 327 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 20 Nghị định 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022;
  • Áp dụng Luật phí và Lệ phí năm 2015;
  • Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H (Tức Nữ H1) và ông Trần Văn T đối với Ngân hàng N về việc “Yêu cầu xóa đăng ký bảo đảm”.
  2. Bà Trần Thị H và ông Trần Văn T có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện xóa nội dung đăng ký biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 002679.2015/HĐTCBL quyển số 03-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 15/12/2015 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00096.QSD Đ/1249.H, số HS: 23011001 do UBND huyện T cấp ngày 09/9/2003 đứng tên chủ sử dụng là bà Trần Thị H và ông Trần Văn T.
  3. Về án phí sơ thẩm: Ngân hàng N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Ngọc Liên

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/DSST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về yêu cầu xóa đăng ký bảo đảm

  • Số bản án: 239/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xóa đăng ký bảo đảm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Trần Thị H (Tức Nữ H1), sinh năm: 1960; Ông Trần Văn T, Sinh năm: 1953; Cùng ĐKHKTT và nơi ở: Số I, ngõ B, phố Đ, Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Quốc V và bà Nguyễn Thị S. (Có mặt) - Bị đơn: Ngân hàng N; Địa chỉ trụ sở: Số B L, phường T, B, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V1 – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Trung T1 – PGĐ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger