Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 239/2024/DS-ST

Ngày 16 tháng 8 năm 2024

Tranh chấp hụi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Dân

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc: Tranh chấp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng Q; Sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Hằng M; Sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Ngọc T. Sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên toà, nguyên đơn trình bày: Ngày 10/02/2023 tôi có tham gia 02 chân hụi 1.000.000đ/tháng do bà M làm chủ gồm 22 chân. Hàng tháng tôi đều đóng hụi đủ cho bà M. Số tiền bỏ hụi hàng tháng cụ thể tôi không nhớ rõ. Đến ngày 16/12/2023 do không thấy bà M gom hụi và tôi cũng không liên lạc được tôi tìm đến nhà thì bà M tuyên bố đã vở hụi do bị người khác giật hụi. Tôi và bà M có trực tiếp đối chiếu và xác nhận bằng miệng với nhau là tôi đã đóng hụi được 10 lần hụi chết, số tiền là 20.000.000đ và bà M hứa trả mỗi tháng 2.000.000đ. Nhưng bà M không trả đủ như đã hứa, mà trả lắc nhắt nhiều lần, tính đến ngày 31/3/2024 trả tổng cộng được 7.000.000đ, còn nợ lại 13.000.000đ. Tôi có yêu cầu nhiều lần nhưng bà M không trả tiếp. Ngày 15/4/2024 tôi có làm đơn yêu cầu gửi Uỷ ban, tại buổi hoà giải ngày 21/4/2024 bà M xin trả hàng tháng từ 500.000đ đến 1.000.000đ nhưng do nợ đã lâu nên tôi không đồng ý. Nay tôi yêu cầu bà M và ông T phải trả số tiền hụi còn thiếu là 13.000.000đ, không yêu cầu lãi suất.

Tại Bản tự khai và Biên bản hoà giải ngày 30/5/2024, bị đơn bà Nguyễn Hằng M trình bày: Ngày 10/02/2023 dương lịch tôi có có mở hụi 1.000.000đ/tháng, có tổng cộng 22 chân, bà Q tham gia 02 chân. Hụi mở được 10 lần, do mất khả năng thanh toán và gia đình khó khăn nên tôi có tuyên bố ngừng hụi và trao đổi với hụi viên xin trả vốn, chỉ có Q do điện thoại không được nên không có nói với Q. Số tiền vốn chị Q đóng 10 tháng là 11.930.000đ, tôi đã trả được 7.000.000đ, còn lại 4.930.000đ. Sổ hụi và số tiền bỏ hụi hàng tháng tôi đều có kê ra nhưng không có mang theo, tôi sẽ cung cấp cho Toà án sau. Tôi và ông T là vợ chồng, chung sống từ năm 2019 nhưng không có đăng ký hôn. Việc tôi chơi hụi ông T hoàn toàn không biết nên không có liên quan đến ông T. Trong số 10 lần hụi chết tôi có tham gia 02 chân và đã hốt. Số tiền hốt hụi tôi dùng để chang trãi hụi và trả nợ riêng của tôi.

Tại Bản tự khai ngày 30/5/2024, ông Phan Ngọc T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Tôi và bà M chỉ sống chung như vợ chồng. Trong vụ hụi giữa bà M và bà Q tôi hoàn toàn không biết. Vì công việc đi làm công nhân nên tôi xin Toà xét xử vắng mặt.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hụi, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Nguyễn Hằng M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà M, ông T theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, cụ thể là danh sách hụi viên và Biên bản hoà giải của Tổ hoà giải ấp X, xã L ngày 21/4/2024 và lời khai của nguyên đơn và bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện bà Q có tham gia dây hụi do bà M làm chủ, hụi khui ngày 10/02/2023 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng/tháng, dây hụi gồm 22 chưng, bà Q tham gia 02 chưng. Hụi mở được 10 lần thì đến ngày 16/12/2023 bà M tuyên bố ngừng hụi. Sau đó bà M đã trả được 7.000.000đồng. Vấn đề này được nguyên đơn và bị đơn thừa nhận nên không phải chứng minh.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ hụi còn thiếu là 13.000.000đồng (tính theo giá hụi chết 1.000.000đồng x2 chưng x 10 lần = 20.000.000đồng, trừ 7.000.000đồng đã trả). Đối với bị đơn tại buổi hoà giải xác định số tiền vốn chị Q đóng 10 tháng là 11.930.000đồng, đã trả được 7.000.000đồng, còn thiếu lại 4.930.000đồng. Nhưng bị đơn không cung cấp được sổ hụi và số tiền bỏ hụi hàng tháng để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Trong khi đó, tại Biên bản hoà giải tại ấp X, xã L thì giữa nguyên đơn và bị đơn không có tranh chấp về số tiền còn nợ là 13.000.000đồng mà chỉ không thống nhất về phương thức trả tiền.

Xét thấy, trong số tiền nợ hụi 13.000.000đ có phần lãi hụi nhưng đây là hụi có lãi được thoả thuận giữa chủ hụi và những người tham gia hụi, người đưa ra mức lãi cao sẽ được hốt hụi, người chưa được hốt đương nhiên được hưởng mức lãi của người đã hốt hụi. Theo đó, chủ hụi có trách nhiệm thu phần hụi của các thành viên góp hụi để giao cho thành viên lĩnh hụi. Phần lãi là do các thành viên đã lãnh hụi trả, bà M có trách nhiệm đi thu hụi giao cho bà Q, nhưng bà M không làm tròn trách nhiệm của chủ hụi trong việc thu và giao hụi, dẫn đến phải đình hụi nên bà M có trách nhiệm trả cho bà Q tiền hụi đã đóng kể cả phần lãi hụi. Các đương sự không chứng minh phần lãi hụi là bao nhiêu để xem xét điều chỉnh trong trường hợp lãi hụi vượt quá quy định. Bà M là chủ hụi nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh cho số tiền bỏ hụi hàng tháng là bao nhiêu nên tự gánh chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ vào trình bày và sự thống nhất của các đương sự thể hiện tại Biên bản hoà giải cơ sở, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi 13.000.000đ là có cơ sở nên được chấp nhận.

[3] Về trách nhiệm thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu cả hai vợ chồng bà M và ông T cùng có trách nhiệm trả nợ, do trong quá trình chung sống bà M và ông T có xây cất nhà nên khi nợ cả hai vợ chồng phải cùng có trách nhiệm. Đối với bà M và ông T trình bày rằng ông bà chung sống từ năm 2019 nhưng không có đăng ký hôn. Việc bà M chơi hụi ông T hoàn toàn không biết nên không có liên quan đến ông T. Xét thấy tại Công văn số 279/UBND ngày 08/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã L thể hiện ông Phan Ngọc T, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Hằng M, sinh năm 1988 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 83/2020 ngày 03/11/2020. Do đó, việc bà M, ông T trình bày ông bà chỉ sống chung không phải vợ chồng hợp pháp là không đúng. Do nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên căn cứ vào Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình thì ông T cùng có trách nhiệm thanh toán nợ theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

Từ những phân tích trên, xét thấy việc bà Trần Thị Hồng Q yêu cầu bà Nguyễn Hằng M và ông Phan Ngọc T cùng có trách nhiệm trả cho bà Q tiền nợ hụi 13.000.000 đồng là có cơ sở nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bà Q không phải chịu án phí, đã qua có dự nộp nên được nhận lại. Bà M và ông T cùng phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Nghị định 19/2029/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hồng Q. Buộc bà Nguyễn Hằng M và ông Phan Ngọc T cùng có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Hồng Q số tiền hụi 13.000.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Án phí dân sự có giá ngạch:

Bà Nguyễn Hằng M và ông Phan Ngọc T cùng phải chịu án phí là 650.000 đồng (chưa nộp).

Bà Trần Thị Hồng Q không phải chịu án phí. Ngày 25/4/2024 bà Q có dự nộp 325.000 đồng theo biên lai số 0008479 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại khi án có hiệu lực.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà M, ông T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND thành phố Cà Mau;
  • - Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 239/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger