Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

Độc lập- Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 239/2023/HS-ST

Ngày: 17/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Yêm;

2. Bà Trần Thị Đông.

Thư ký phiên toà: Bà Trương Thu Hà– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh - thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 247/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2023/QĐST-HS ngày 03/11/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN XUÂN M, sinh năm: 1992; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu A, H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Tiến D; Con bà: Nguyễn Thị L; Gia đình bị cáo có 03 con, bị cáo là con thứ 01. Vợ: Trương Thúy H, có 01 con sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Năm 2020 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 70/2020/HS-ST ngày 12/5/2020. Nộp án phí ngày 12/5/2020; Ngày 25/01/2022 chấp hành xong án phạt tù.

Nhân thân: Năm 2010 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 77/2010 ngày 19/5/2010. Nộp án phí ngày 19/5/2010 (Đã xoá án tích).

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 16/8/2023 đến nay tại Trại giam S Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Chị Nguyễn Thị H1 – Sinh năm 1999. HKTT: Thôn M, xã C, huyện Đ, TP Hà Nội; Nơi ở: Thôn P, xã U, huyện Đ, TP Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Chị Nguyễn Thị Đ – Sinh năm 1971. HKTT: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/8/2023, Nguyễn Xuân M1 đi xe khách tuyến thành phố V đi bến xe M. Sau đó, M1 tiếp tục đi xe buýt đến Bệnh viện đa khoa huyện Đ địa chỉ tổ A, thị trấn Đ, Đ, Hà Nội thăm bạn ốm, đang nằm điều trị tại Khoa Nội tầng 7. Đến 13 giờ 00 cùng ngày, M1 đến Bệnh viện, đi lên phòng cuối tầng 7 nhưng thấy bạn đang nằm ngủ nên đi ra ngoài đợi. Khi đi qua phòng số 716, thấy mọi người trong phòng đang ngủ, M1 nhìn thấy điện thoại di động của một số người dân để ở giường không có người trông nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Mận đi vào phòng, thấy chị Nguyễn Thị H1 (sinh năm: 1999; Nơi thường trú tại: thôn M, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội) đang nằm ngủ trên giường bệnh số 02; chị Nguyễn Thị Đ (sinh năm: 1971; Nơi thường trú: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương) đang nằm ngủ trên giường bệnh số 03. M1 dùng tay trái lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, vỏ ốp điện thoại màu cà phê, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0379365132, bên trong ốp điện thoại cất số tiền 1.060.000 đồng của chị H1 để ở cạnh người trên giường cất giấu vào chiếc túi giấy cứng (túi đựng bánh nhãn hiệu Challot) cầm theo người. Mận tiếp tục lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy A11 màu đen, lắp sim số thuê bao 0817746469 của chị Đ để trên giường cho vào trong túi giấy cứng. Lúc này, ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1967; Nơi thường trú: thôn T, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội) là bệnh nhân nằm điều trị cùng phòng phát hiện hô “sao lấy điện thoại của người ta” nên M1 bỏ chạy đi ra ngoài phòng cầm theo tài sản trộm cắp được để bên trong túi. Chị H1 nghe thấy to tiếng trong phòng, tỉnh dậy phát hiện bị trộm cắp điện thoại nên đuổi theo M1. Khi chạy ra ngoài cổng bệnh viện chị H1 nhờ một người (không quen biết không rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe máy đuổi theo Mận đến cổng UBND xã U, Đ thì giữ được M1 và hỏi “Anh lấy điện thoại của em phải không”, M1 nói “không”, chị H1 kiểm tra túi giấy màu đỏ Mận đang cầm trên tay thấy chiếc điện thoại Iphone X của chị H1. Chị H1 cùng một số người dân xung quanh giữ và đưa Mận đến Công an xã U, Công an huyện Đ để giải quyết vụ việc.

Công an xã U lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang đối với Nguyễn Xuân M1.

Vật chứng tạm giữ:

Của Nguyễn Xuân M1:

  • 01 túi giấy cứng màu đỏ kích thước (40x30)cm
  • 01 ví da màu nâu, kích thước (10x15)cm
  • 01 chiếc điện thoại di động Iphone X màu trắng, ốp điện thoại lắp sim số thuê bao 0379365132, 01 ốp điện thoại.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy A11 lắp sim số thuê bao 0817746469.

Tiền Việt Nam tổng số tiền: 1.060.000 đồng

- Của ông Lê Văn T:

  • 01 USB nhãn hiệu Apcer màu trắng xanh bên trong lưu 02 Video ghi nhận hình ảnh sự việc ngày 16/8/2023 tại Bệnh viện Đ

Tại cơ quan điều tra, M1 khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.

Cùng ngày 16/8/2023 chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị Đ đến Cơ quan Công an thị trấn Đ trình báo sự việc trên.

Ngày 16/8/2023, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

Chiếc điện thoại di động Iphone X màu trắng trị giá 5.000.000 đồng; Sim điện thoại số 0379.365.xxx trị giá 50.000 đồng; Ốp điện thoại trị giá 80.000 đồng

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy A17 trị giá 1.700.000 đồng; sim điện thoại số 0817.746.xxx trị giá 50.000 đồng

Tổng giá trị tài sản là: 6.880.000 đồng

Tổng giá trị tài sản (gồm điện thoại, sim, ốp và 1.060.000 đồng) bị chiếm đoạt trị giá: 7.940.000đ (bằng chữ: Bảy triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).

Đối với 01 điện thoại Iphone X màu trắng, vỏ ốp điện thoại màu cà phê lắp sim kèm theo và tiền Việt Nam tổng số 1.060.000 đồng là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy A11 màu đen, bên trong lắp sim số là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Đ; ngày 25/8/2023, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị H1 và chị Đ. chị H1 và chị Đ đề nghị xử lý nghiêm đối với hành vi Trộm cắp tài sản của M1.

Đối với 01 chiếc ví da màu nâu kích thước (10x15)cm tạm giữ của M1 là tài sản hợp pháp của Mận, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu bằng hình thức trao trả cho bà Nguyễn Thị L (sinh năm:1966; Nơi thường trú tại: Khu A, xã H, huyện V, tỉnh Phú Thọ là mẹ đẻ M1) quản lý.

Đối với 01 túi giấy cứng màu đỏ kích thước (40x30)cm tạm giữ của M1 mang theo để cất giấu tài sản trộm cắp là vật chứng của vụ án chuyển Toà án giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với 01 USB nhãn hiệu Apcer màu trắng xanh bên trong lưu 02 Video tạm giữ của ông Lê Văn Thế 1 tài sản hợp pháp của ông T, ông T không đề nghị nhận lại USB tự nguyện giao nộp phục vụ quá trình điều tra vụ án. Cơ quan điều tra chuyển USB theo hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.

Viện kiểm sát nhân dân quận huyện Đông Anh đã căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận vào khoảng 13 giờ ngày 16/8/2023 tại Bệnh viện Đ, bị cáo có hành vi lén lút vào phòng bệnh nhân để trộm cắp tài sản ( là 02 điện thoại, 02 sim, 01 ốp và số tiền mặt 1.060.000 đồng) với tổng giá trị là 7.940.000 đồng của chị Nguyễn Thị Đ và chị Nguyễn Thị H1. Sau đó bị phát hiện và bắt quả tang vừa đưa đến Công an xã U.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Xuân M1 từ 14 đến 18 tháng tù.

Về phần dân sự: Không.

Về phần vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụn tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi giấy cứng màu đỏ kích thước (40x30)cm tạm giữ của M1.

Tiếp tục lưu giữ hồ sơ 01 USB nhãn hiệu Apcer màu trắng xanh của ông Lê Văn T bên trong lưu 02 Video.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.

[2] Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Được chứng minh bằng tang vật vụ án thu được tại hiện trường vụ, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ có đủ căn cứ khẳng định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” là 02 điện thoại, 02 sim, 01 ốp và số tiền mặt 1.060.000 đồng. Tổng giá trị là 7.940.000 đồng của chị Nguyễn Thị Đ và chị Nguyễn Thị H1, bị cáo bị phát hiện và bắt quả tang. Các tài sản trên đã được thu hồi trả cho các bị hại.

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được luật hình bảo vệ, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, song do hám lợi nên vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung, cũng đồng thời tạo một khoảng thời gian để bị cáo được cải tạo trở thành người có ích cho xã hội trong môi trường pháp luật.

[3] Về nhân thân và tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa.

  • - Năm 2020 TAND TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử 24 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 70/2020/HS-ST ngày 12/5/2020. Nộp án phí ngày 12/5/2020; Ngày 25/01/2022 chấp hành xong án phạt tù.
  • Nhân thân: Năm 2010 TAND TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 77/2010 ngày 19/5/2010. Nộp án phí ngày 19/5/2010 (Đã xoá án tích).

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Xuân M1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại bị hại. Bị hại không yêu cầu nên không xét.

[7] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, hình phạt bổ sung:

  • Biện pháp tư pháp: Không;
  • Xử lý vật chứng: Đối với 01 USB nhãn hiệu Apcer màu trắng xanh của ông Lê Văn T bên trong lưu 02 Video cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án; Đối với 01 túi giấy cứng màu đỏ kích thước (40x30)cm tạm giữ của bị cáo M1 cần tịch thu tiêu hủy.
  • Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không phạt tiền bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

+ Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự năm 2015;

+ Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân M1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2023.

Biện pháp tư pháp: Không;

Xử lý vật chứng: Đối với 01 USB nhãn hiệu Apcer màu trắng xanh của ông Lê Văn T bên trong lưu 02 Video cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án;

Tịch thu tiêu hủy 01 túi giấy cứng màu đỏ kích thước (40x30)cm của bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không phạt tiền bị cáo.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bán án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKS ND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Triệu Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 239/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Xuân Mận phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger