Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2024/HSST

Ngày: 17/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh- cán bộ hưu trí

Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 17/05/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 236/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2024/QĐXXST-HS ngày 02/05/2024, Quyết định hoãn phiên Toà số 341/2024/QĐST-HS ngày 13/05/2024 đối với các bị cáo:

  1. Đồng Văn T

    Tên gọi khác: không; Sinh ngày 20/05/2004; Tại Thanh Hoá; Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chổ ở hiện nay: tổ A, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không ổn định; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đồng Văn T1, sinh năm: 1970 và bà Trần Thị T2, sinh năm: 1975; Chưa có vợ con

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 406/LCĐKNCT ngày 28/04/2024 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà

  2. Nguyễn Hoàng Nguyên Đ

    Tên gọi khác: không, sinh ngày: 10/11/2003; Tại: Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 576, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Chổ ở hiện nay: 576, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; ; Con ông Nguyễn Xuân G, sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm:1967; Chưa có vợ con;

    Tiền án+ tiền sự: không

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 407/LCĐKNCT ngày 28/04/2024 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai

Bị hại: anh Phan Thành L, sinh năm: 2005

Địa chỉ: 5, khu phố H, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo, bị hại có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đồng Văn T, sinh năm 2004, ngụ tại Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay tổ A, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và Nguyễn Hoàng Nguyên Đ, sinh năm 2003, ngụ tại E, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai quen biết với anh Phan Thành L, sinh ngày 26/04/2005, ngụ tại khu phố I, thị trấn H, xã V, tỉnh Quảng Trị, chỗ ở hiện nay 2/58, khu phố H, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Vào khoảng 22 giờ ngày 24/10/2023, khi cả 3 cùng đi ăn uống tại khu vực cổng A, phường P, thành phố B thì L gây sự đòi đánh nhau với Đ, (L thách thức Đ cầm dao dài, L chỉ cần cầm dao thái lan và trong vòng 5 giây có thể hạ được Đ). Lúc này, L và Đ xảy ra xung đột đòi đánh nhau, Đ chạy về nhà lấy một con dao dài khoảng 40cm lưỡi rộng 05cm quay lại để đánh nhau với L, thì được T can ngăn, nên cả hai ra về.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/10/2023, khi T và Đ đang đi ăn trưa tại khu dân cư P, phường L, thành phố B thì L nhắn tin cho T để đòi tiền nợ (trước đó L cho T vay 34.000.000 đồng) để mua điện thoại và có lời nói gây sự thách thức với T. Sau khi nhận tin nhắn, T kể lại cho Đ nghe và cả hai rủ nhau hẹn gặp L để đánh. T nhắn tin cho L và hẹn gặp tại đoạn trước Công ty A, khu phố H, phường A, thành phố B. Sau đó, Đ lấy con dao trong cốp xe mô tô hiệu Honda, biển số 60H1-470.51 cầm trên tay rồi Đ đưa xe cho T chở Đ chạy đến điểm hẹn gặp L. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường trước Công ty A, nhìn thấy L đang đứng bên đường, T điều khiển xe chạy lại, rồi cả hai xuống xe. T lấy dao trên tay Đ đi lại chém hai phát vào người L, rồi quay lại lên xe mô tô chở Đ chạy đi. Trên đường bỏ chạy, vì sợ bị bắt nên Đ ném con dao trên đường (không xác định được vị trí), rồi cả hai lên Lâm Đồng. L bị chém thương tích đi bộ về nhà được mẹ ruột đưa đến Bệnh viện S cấp cứu.

Ngày 02/11/2023, anh Phan Thành L làm đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với Đồng Văn T và Nguyễn Hoàng Nguyên Đ rồi đến Công an phường A trình báo sự việc. Ngày 08/01/2024, ngày 19/01/2024, T và Đ đến Công an thành phố B đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng:

  • 01(một) con dao tự chế dài khoảng 40cm lưỡi rộng 05cm là hung khí T và Đ sử dụng để gây thương tích cho anh L. Sau khi gây án, Đ ném con dao bên đường nên không thu hồi được. (bút lục 87-88).
  • 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, biển số 60H1-470.51 số máy: KF11E2454405, số khung: MH1KF1127JK461144, do Nguyễn Hoàng Nguyên Đ làm chủ sở hữu. Qua xác minh, ông Nguyễn Xuân G (là bố ruột của Đ) khai nhận mua chiếc xe mô tô trên cho Đ sử dụng để đi học. Sau khi biết Đ sử dụng xe để đi đánh nhau nên ông G đã bán chiếc xe mô tô cho một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) và không có giấy tờ mua bán xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được. (bút lục số 91).
  • 01 USB. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án. (bút lục 52).

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 1073/KLTTCT-TTPYDDN ngày 15/11/2023 của Trung tâm P, kết luận Phan Thành L bị thương tích như sau:

  1. Các kết quả chính:

    (Khám giám định, khám chuyên khoa, cận lâm sàng)

    • Sẹo mặt sau vai phải kích thước 15x0,2cm. Tỷ lệ: 02%.
    • Sẹo vết thương trùng với vết mổ ngực phải kích thước 10,5x0,2cm. Tỷ lệ: 02%.
    • Sẹo mổ dẫn lưu bên phải kích thước 02x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.
    • Sẹo mặt sau ngoài 1/3 dưới cánh tay phải kích thước 06x0,2cm. Tỷ lệ: 02%.
    • Tổn thương màng phổi phải đã điều trị hiện không để lại di chứng. Tỷ lệ: 04%.
    • Gãy xương sườn số 7 bên phải, can xấu. Tỷ lệ: 2,5%.
    • Tổn thương đứt cơ D phải đã điều trị hiện để lại hạn chế vận động dạng khép xoay vai phải. Tỷ lệ: 11%.
  2. Kết luận:

    Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ phần trăm tổ thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Thành L -2005 tại thời điểm giám định là 22% (Hai mươi hai phần trăm).

  3. Kết luận khác:

    Vật gây thương tích: Vật sắc.

Về trách nhiệm dân sự: Bố mẹ Đồng Văn T bồi thường 26.000.000₫ (hai mươi sáu triệu đồng) tiền viện phí thuốc men và trả số tiền nợ 34.000.000₫ (ba mươi tư triệu đồng) trước đó T vay của anh L nên Phan Thành L không yêu cầu Đồng Văn T và Nguyễn Hoàng Nguyên Đ phải bồi thường

Tại cáo trạng số 236/CT-VKS-HS ngày 17/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố:

Bị cáo Đồng Văn T và Nguyễn Hoàng Nguyên Đ về tội Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo:

Đồng Văn T mức hình phạt từ 02 ( Hai) năm 06 ( Sáu) tháng- 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo

Nguyễn Hoàng Nguyên Đ mức hình phạt từ 02 ( Hai) năm 04 ( Bốn) tháng- 02 (Hai) năm 06( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về pháp luật áp dụng và xác định tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, chứng cứ có tại hồ sơ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 30 ngày 25/10/2023, tại đoạn đường trước Công ty A, khu phố H, phường A, thành phố B, Đồng Văn T cùng với Nguyễn Hoàng Nguyên Đ có hành vi dùng dao gây thương tích cho Phan Thành L với tỉ lệ thương tích 22% (hai mươi hai phần trăm). Ngày 02/11/2023, anh Phan Thành L làm đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với Đồng Văn T và Nguyễn Hoàng Nguyên Đ. Ngày 08/01/2024, ngày 19/01/2024, T và Đ đến Công an thành phố B đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Hành vi của bị cáo Đồng Văn T và Nguyễn Hoàng Nguyên Đ đã cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm để răng đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo T bồi thường cho anh L với số tiền là 26.000.000đ( Hai mươi sáu triệu đồng) nên anh L không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm đồng thời trong quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử anh inh cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Đối với bị cáo T thì bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tự nguyện bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sữa đổi bổ sung năm 2017. Nên Hội đồng xét xử sẽ giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình; Đồng thời cũng xét thấy các bị cáo tuổi đời còn trẻ, suy nghĩ chưa chín chắn nhằm để cho các bị cáo có cơ hộ sữa chữa, khắc phục lỗi lầm Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà căn cứ điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho các bị cáo được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ có tác dụng giáo dục răng đe và phòng ngừa chung

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo trong vụ án này như sau:

Bị cáo T là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, vết thương của anh L là do bị cáo T gây ra.

Bị cáo Đ là người tích cực chuẩn bị công cụ phạm tôi và chở bị cáo T cùng đi đánh anh L. Nên mức hình phạt của bị cáo T sẽ cao hơn bị cáo Đ

[4] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Phan Thành L không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét

Biện pháp tư pháp: không

[5] Về án phí HSST: mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 điều 134, điểm s khoản 1, điều 51, điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017( Áp dụng thêm điển b khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017cho bị cáo T) :

  1. Tuyên bố bị cáo Đồng Văn T và Nguyễn Hoàng Nguyên Đ phạm tội “ Cố ý gây thương tích"

    Xử phạt: bị cáo Đồng Văn T 02 ( Hai) năm 06 ( Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05( Năm ) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Nguyên Đ 02 ( Hai) năm 04( Bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 ( Bốn) năm 08 ( T4) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

    Giao bị cáo Đồng Văn T cho ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát trong thời gian thử thách

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02( hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Nguyên Đ cho ủy ban nhân dân xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát trong thời gian thử thách

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02( hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: không

  3. Về án phí HSST: áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Mộng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 239/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đồng Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger