Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2024/DS-PT

Ngày: 17-5-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Thẩm phán:Bà Phùng Thị Cẩm Hồng.

Bà Trịnh Thị Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.

Vào ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 127/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 143/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950.
  2. Địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn:
    • 2.1. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1982.
    • 2.2. Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1940.
    • 2.3. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1962.
    • 2.4. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963.
    • 2.5. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965.
    • 2.6. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968.
    • 2.7. Bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1970.
    • 2.8. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975.
    • 2.9. Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1979.
    • 2.10. Bà Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm 1985.

    Cùng địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Phạm Thanh V, sinh năm 1977.
    • Địa chỉ: Số C, đường M, khu phố E, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

      Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Ông Nguyễn Phước Đ1, sinh năm 1992. Địa chỉ: B quốc lộ E, xã B, huyện B, TP . (văn bản ủy quyền ngày 31/3/2023)

    • 3.2. Đào Thị Bạch L, sinh năm 1977.
    • Địa chỉ: Số C, đường M, khu phố E, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

    • 3.3. Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1954.
    • Địa chỉ: Ấp B xã T, huyện B, tỉnh Long An.

    • 3.4. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1956.
    • Địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Mỹ H1 bà Nguyễn Thị Mỹ D, bà Nguyễn Thị Mỹ T1.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

(Các đương sự có mặt;

Ông Đ, ông S, ông T, bà L có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/7/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 19/7/2023 và trong quá trình giải quyết, bà Nguyễn Thị C là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn O (cha ông Nguyễn Văn K) là anh em ruột, thực hiện theo lời hứa của bà Nguyễn Thị C1 là mẹ ruột cho ba người em gái gồm bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị S1 và bà Nguyễn Thị X 10 cây vàng 24K. Sau khi mẹ mất ông O là anh, ông O quản lý toàn bộ tài sản đất đai của mẹ để lại nên ông O phải có nhiệm vụ đưa cho bà C, bà S1 và bà X 10 cây vàng 24K nhưng sau đó ông O không có vàng để giao cho bà C, bà S1 và bà X nên ông O, ông K thỏa thuận giao cho bà C phần đất có chiều ngang 7,2m đi thẳng vô nhà bà C, bà C được toàn quyền sử dụng đối với phần đất này, phần đất này thuộc một phần thửa 23, tờ bản đồ 8-3, toạ lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An, các bên có lập tờ thỏa thuận.

Theo văn bản thỏa thuận ngày 03/6/2009 thì ông O, ông K phải giao cho bà C phần đất có chiều ngang 7,2m dài 19,8m nhưng đến nay ông K chưa làm thủ tục giao đất và sang tên cho bà C (do đất không đủ diện tích tối thiểu để tách thửa).

Trong quá trình giải quyết được biết thửa đất 23 ông K đã chuyển cho ông Nguyễn Văn O là cha của ông K, ông O đã chết nên cần phải đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông O gồm: bà Nguyễn Thị K1 (vợ) và 09 người con chung gồm: ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Mỹ H1, ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị Mỹ D, bà Nguyễn Thị Mỹ T1 và ông Nguyễn Văn K.

Nay bà C yêu cầu bà K1, ông M, ông Đ, ông S, bà H, bà H1, ông T, bà D, bà T1, ông K làm thủ tục chuyển nhượng phần đất có diện tích 151,4 m² thuộc một phần thửa 23 tờ bản đồ 8-3 đất tọa lạc tại Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Phần đất này, bà sử dụng làm lối đi để đi vào nhà, bà đã chuyển nhượng cho ông V thửa đất và lối đi của bà. Theo yêu cầu khởi kiện của ông V thì bà đồng ý, bà yêu cầu bị đơn phải giao đất cho bà để bà giao cho ông V. Bà C thống nhất phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T ký duyệt ngày 30/01/2023 và thống nhất chứng thư thẩm định giá.

Bị đơn ông Nguyễn Văn K trình bày:

Theo yêu cầu của bà C thì ông K không đồng ý vì theo văn bản thỏa thuận ngày 03/6/2009 thì ông K đồng ý giao cho bà C 7,2m ngang nhưng chỉ cho bà C sử dụng để làm lối đi không được quyền mua bán chuyển nhượng. Nếu ông K cho bà C mua bán chuyển nhượng thì ông K đã chuyển tên cho bà C lâu rồi đâu để nay bị thưa kiện. Đối với giấy cam kết ngày 21/7/2010 thì ông K xác định là chữ ký của ông K nhưng ông K chưa từng ký vô tờ giấy cam kết đó, lúc trước con bà C có kêu ông K ký tên cho nó làm hàng rào chứ từ xưa nay ông K chưa từng biết mặt anh V này. Bà C vi phạm việc chuyển nhượng vì theo giấy cam kết bà C chỉ được sử dụng không được mua bán chuyển nhượng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông V yêu cầu bà C, bà K1, ông M, ông Đ, ông S, bà H, bà H1, ông T, bà D, bà T1, ông K làm thủ tục chuyển nhượng phần đất có diện tích 151,4 m² thuộc một phần thửa 23 tờ bản đồ 8-3 đất tọa lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An thì ông K không đồng ý vì ông K không có giao dịch chuyển nhượng đất với ông V. Do trước đây ba ông K thỏa thuận giao phần đất có chiều ngang 7,2m dài 19,8m thuộc một phần thửa 23 tờ bản đồ 8-3 đất tọa lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An do ông K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất này có trị giá là 10 cây vàng 24K và khi đó chỉ thỏa thuận cho bà C làm lối đi không được mua bán chuyển nhượng. Nay bà C không sử dụng thì ông K trả cho bà C 10 cây vàng 24K để ông K sử dụng phần đất này. Ông K thống nhất phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo được chi nhánh V2 đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023 và thống nhất chứng thư thẩm định giá.

Bị đơn bà Nguyễn Thị K1 trình bày:

Bà K1 là vợ ông Nguyễn Văn O, bà K1 và ông O chung sống có tổng cộng 09 người con chung gồm: ông Nguyễn Văn M; ông Nguyễn Văn Đ; ông Nguyễn Văn S; bà Nguyễn Thị H; bà Nguyễn Thị Mỹ H1; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị Mỹ D; bà Nguyễn Thị Mỹ T1 và ông Nguyễn Văn K, bà K1 và ông O không có con riêng, không có con nuôi. Về yêu cầu khởi kiện của bà C thì bà K1 không đồng ý vì trước đây ông O có nói cho bà C phần đất này để bà C làm lối đi đến cuối đời không được mua bán, nay bà C lấy phần đất này để bán thì bà K1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà C. Gia đình bà K1 không yêu cầu chia thừa kế trong vụ án này, nếu gia đình có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Bà K1 cam kết lời trình bày và xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H1 trình bày:

Bà H1 là con của bà K1 và ông O, bà H1 đã có gia đình riêng, bà H1 không yêu cầu chia thừa kế trong vụ án này, nếu gia đình có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Về yêu cầu khởi kiện của bà C thì bà H1 không đồng ý vì trước đây ông O có nói cho bà C phần đất này để bà C làm lối đi đến cuối đời không được mua bán, nay bà C lấy phần đất này để bán thì bà H1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà C. Bà H1 cam kết lời trình bày và xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:

Ông M là con của bà K1 và ông O, ông M không yêu cầu chia thừa kế trong vụ án này, nếu gia đình có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Về yêu cầu khởi kiện của bà C thì ông M không đồng ý vì trước đây ông O có nói cho bà C phần đất này để bà C làm lối đi, nếu trường hợp bà C lớn tuổi không còn khả năng lao động cần bán để lấy tiền dưỡng già thì ông M cũng đồng ý nhưng do bà C đòi phần đất này bán để trả nợ cho con rễ của bà C nên ông M không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà C.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:

Bà D là con của bà K1 và ông O, bà D đã có gia đình riêng, bà D không yêu cầu chia thừa kế trong vụ án này, nếu gia đình có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Về yêu cầu khởi kiện của bà C thì bà D không đồng ý vì trước đây ông O có nói cho bà C phần đất này để bà C làm lối đi đến cuối đời không được mua bán, nay bà C lấy phần đất này để bán thì bà D không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà C. Bà D cam kết lời trình bày và xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông Đ là con của bà K1 và ông O, sau khi ông O mất thì người mua đất của bà C có mời các anh chị em chúng tôi đến để xác định vị trí ranh đất cho cán bộ đo đạc, giao đất cho bên mua và bên mua đã nhận đất xây tường rào, san lắp mặt bằng, như vậy chứng tỏ gia đình tôi đã đồng ý giao đất cho người mua đất của bà C, chứ nếu gia đình tôi có tranh chấp thì đã ngăn cản và không cho xây tường rào. Khi bà C bán đất dời nhà đi thì chủ đất mới đã nhận đất và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Tôi xác định không có yêu cầu tranh chấp và cũng không yêu cầu chia thừa kế phần đất này. Ông Đ cam kết lời trình bày và xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà H là con của bà K1 và ông O, bà H đã có gia đình riêng, bà H không yêu cầu chia thừa kế trong vụ án này, nếu gia đình có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Về yêu cầu khởi kiện của bà C thì bà H không đồng ý vì nguồn gốc đất này của ông O thì bà C trả lại cho ông O để cúng giổ ông bà. Bà H cam kết lời trình bày và xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T1 trình bày:

Bà T1 là con của bà K1 và ông O, bà T1 đã có gia đình riêng, bà T1 không yêu cầu chia thừa kế trong vụ án này, nếu gia đình có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Về yêu cầu khởi kiện của bà C thì bà T1 không đồng ý vì trước đây ba bà T1 có thỏa thuận cho bà C là cô ruột bà T1 phần đất này để cô C làm lối đi vô nhà cô C nhưng nay cô C bị người ta lấy đất trừ nợ nên đất của nhà bà T1 thì trả cho nhà bà T1. Nếu cô C ở thì bà T1 vẫn thực hiện theo di nguyện của ba bà T1 là để cho cô C làm lối đi vô nhà nhưng nay cô C bán hết đất bên trong nên đất này trả về cho gia đình bà T1. Bà T1 cam kết lời trình bày và xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:

Ông S là con của bà K1 và ông O, ông S đã có gia đình riêng, ông S không yêu cầu chia thừa kế trong vụ án này, nếu gia đình có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Về yêu cầu khởi kiện của bà C thì ông S không có ý kiến, ông S cam kết lời trình bày và xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Ông Nguyễn Phước Đ1là người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Thanh V trình bày:

Trước đây ông V có mua của bà C phần đất thuộc thửa 26, 55 tờ bản đồ 8-3 đất tọa lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An nhưng không có lối đi, sau đó bà C bán cho ông V phần đất ngang 7,2m dài 19,8 m theo giấy cam kết ngày 21/7/2010 do ông K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện tại ông K đã giao cho ông V 4m ngang dài 19,8 m để ông V đổ đất làm lối đi. Ông V đã giao đủ tiền cho bà C nhưng chưa làm hợp đồng chuyển nhượng vì ông K không chuyển tên cho bà C.

Nay ông V có đơn yêu cầu bà C và ông K làm thủ tục chuyển nhượng phần đất có diện tích 151,4 m² thuộc một phần thửa 32 tờ bản đồ 8-3 đất tọa lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Ông thống nhất mảnh trích đo được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023 và thống nhất chứng thư thẩm định giá.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị Bạch L trình bày:

Bà L là vợ của ông Phạm Thanh V, đây là tài sản chung của vợ chồng bà L, ông V. Bà Lê thống n với yêu cầu của ông V: Yêu cầu tất cả các ông bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn O, thực hiện nghĩa vụ theo “Tờ thoả thuận” ngày 03/6/2009 giữa bà C và ông Nguyễn Văn O, cụ thể buộc bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Mỹ H2, bà Nguyễn Thị Mỹ H1, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Mỹ D, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Mỹ T1 thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn O phải giao cho ông Phạm Thanh V phần đất có diện tích 151.4m², thuộc một phần thửa đất số 23, tờ bản đồ 8-3, toạ lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An, do ông Nguyễn Văn O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Theo mảnh trích đo số 136-2023 được Chi nhánh VPĐK Đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023), để ông V được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S1 trình bày:

Bà S1 là em ruột ông O và bà C. Theo lời hứa mẹ của bà S1 cho ba chị em bà C, bà S1 và bà X 10 cây vàng 24K, sau khi mẹ mất ông O là anh, ông O quản lý toàn bộ tài sản đất đai của mẹ để lại nên ông O phải có nhiệm vụ đưa cho bà C, bà S1 và bà X 10 cây vàng 24K nhưng sau đó ông O không có vàng để giao cho bà C, bà S1 và bà X nên ông O thỏa thuận giao cho bà C, bà S1 và bà X phần đất có bề ngang 7,2m dài vô đụng đất bà C, phần đất này thuộc một phần thửa 23,tờ bản đồ 8-3, toạ lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An, lúc này thửa đất 23 do ông Nguyễn Văn K là con ông O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cùng thời điểm này ông K cũng cam kết đồng ý giao cho bà C, bà S1 và bà X phần đất này. Do bà S1 và bà X đã có gia đình riêng có nơi ở ổn định nên bà S1 và bà X thống nhất giao phần đất này cho bà C sử dụng vì bà C có đất phía sau phần đất này vì bà C không có lối đi vào nhà nên mục đích các bà C, bà S1 và bà X và ông O cùng thống nhất giao phần đất này để bà C sử dụng làm lối đi vào nhà. Sau khi thỏa thuận thì ông O đã giao phần đất này cho bà C sử dụng nhưng chưa sang tên nay đất lên giá các con của ông O cố tình làm khó không sang tên cho bà C. Bản thân bà S1 không tranh chấp và không yêu cầu bà C trả đất hay trả vàng tương ứng với phần bà S1 được hưởng, bà S1 đã tự nguyện giao toàn bộ phần đất này cho bà C và cũng không yêu cầu nhận vàng hay tiền đối với phần của bà S1.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X trình bày:

Theo lời hứa của mẹ bà X cho ba chị em gái là bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị S1 và bà Nguyễn Thị X 10 cây vàng 24K nhưng ông O không có vàng để giao nên ông O thống nhất thỏa thuận giao cho bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị S1 và bà Nguyễn Thị X một phần đất có bề ngang 7,2m dài thẳng vô đụng đất nhà bà C. Khi thoả thuận thì phần đất này thuộc thửa 23 do ông Nguyễn Văn K là con ông Nguyễn Văn O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng cùng thời điểm này ông K cũng thống nhất giao cho bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị S1 và bà Nguyễn Thị X phần đất như ông O đã thỏa thuận. Do bà X, bà S1 có gia đình riêng và có nơi ở ổn định trong khi lúc đó bà C không có lối đi vô nhà nên mới thống nhất thỏa thuận lấy phần đất này để giao cho bà C làm lối đi vô nhà cho thuận tiện. Nay bà X đề nghị các đồng thừa kế của ông O giao phần đất này cho bà C, bản thân bà X không tranh chấp và cũng không có yêu cầu bà C trả lại phần đất hay phần vàng tương ứng với phần đất mà bà X được hưởng. Bà X cam kết lời trình bày và xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 127/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 500 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C đối với tất cả các ông bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn O gồm bà Nguyễn Thị K1; ông Nguyễn Văn M; ông Nguyễn Văn Đ; ông Nguyễn Văn S; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị Mỹ H1; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị Mỹ D; bà Nguyễn Thị Mỹ T1; ông Nguyễn Văn K về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Buộc tất cả các ông bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn O gồm bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Mỹ H2, bà Nguyễn Thị Mỹ H1, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Mỹ D, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Mỹ T1 phải giao cho bà Nguyễn Thị C phần đất có chiều dài cạnh hướng đông giáp Quốc lộ A là 8.3m, chiều dài cạnh hướng tây giáp thửa 26,55 là 7m, chiều dài cạnh hướng nam giáp thửa 65 là 18.6m, chiều dài cạnh hướng Bắc giáp thửa 23 (pcl) là 20.9m, diện tích 151.4m, thuộc một phần thửa đất số 23,tờ bản đồ 8-3, toạ lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An, do ông Nguyễn Văn O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Theo mảnh trích đo số 136-2023 được Chi nhánh VPĐK Đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023)

Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Thanh V đối với tất cả các ông bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn O gồm bà Nguyễn Thị K1; ông Nguyễn Văn M; ông Nguyễn Văn Đ; ông Nguyễn Văn S; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị Mỹ H1; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị Mỹ D; bà Nguyễn Thị Mỹ T1; ông Nguyễn Văn K về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Buộc tất cả các ông bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn O gồm bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Mỹ H2, bà Nguyễn Thị Mỹ H1, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Mỹ D, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Mỹ T1 phải giao cho ông Phạm Thanh V phần đất có chiều dài cạnh hướng đông giáp Quốc lộ A là 8.3m, chiều dài cạnh hướng tây giáp thửa 26,55 là 7m, chiều dài cạnh hướng nam giáp thửa 65 là 18.6m, chiều dài cạnh hướng Bắc giáp thửa 23 (pcl) là 20.9m, diện tích 151.4m, thuộc một phần thửa đất số 23, tờ bản đồ 8-3, toạ lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An, do ông Nguyễn Văn O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Theo mảnh trích đo số 136-2023 được Chi nhánh VPĐK Đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023)

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản đối với diện tích đất được xác định theo qui định của khoản 3 Điều 100, khoản 2 Điều 170 Luật Đất đai 2013.

Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

Về lệ phí đo đạc, thẩm định và thẩm định giá: bà Nguyễn Thị C ứng nộp 9.000.000 đồng chi phí xem xét đo đạc, thẩm định tại chổ và thẩm định giá. Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị C được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị K1; ông Nguyễn Văn M; ông Nguyễn Văn Đ; ông Nguyễn Văn S; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị Mỹ H1; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị Mỹ D; bà Nguyễn Thị Mỹ T1; ông Nguyễn Văn K phải liên đới trả cho bà C 9.000.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị K1; ông Nguyễn Văn M; ông Nguyễn Văn Đ; ông Nguyễn Văn S; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị Mỹ H1; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị Mỹ D; bà Nguyễn Thị Mỹ T1; ông Nguyễn Văn K phải liên đới chịu 300.000 đồng.

Ông Phạm Thanh V không phải chịu án phí, hoàn trả cho ông V 748.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007434 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.

Ngày 07/11/2023, bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị Mỹ D, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Mỹ H1, bà Nguyễn Thị Mỹ T1, bà Nguyễn Thị H2 kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 30/11/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An kháng nghị đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bà Nguyễn Thị C trình bày:

Theo tờ thỏa thuận thì ông O phải giao cho bà phần đất có diện 151,4m², phần đất này bà đã bán cho ông V, nên bị đơn phải thực hiện việc chuyển nhượng đất cho bà để bà giao cho ông V sử dụng làm lối đi vào thửa 26 và 55.

Bị đơn trình bày:

Các ông bà đồng ý giao phần đất có diện 151,4m² cho ông V sử dụng làm lối đi.

Ông Nguyễn Phước Đ1 trình bày:

Ông đồng ý nhận phần đất có diện tích 151,4m² theo Mảnh trích đo số 136/2023 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ, ký duyệt ngày 30/01/2023 để ông V sử dụng làm lối đi.

Bà Nguyễn Thị S1, bà Nguyễn Thị X trình bày:

Các bà đồng ý giao phần đất 151,4m² cho ông V sử dụng làm lối đi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Mỹ H1, bà Nguyễn Thị Mỹ D, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Mỹ T1, bà Nguyễn Thị H2 kháng cáo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An kháng nghị. Kháng cáo, kháng nghị đảm bảo các nội dung theo quy định tại Điều 272, Điều 273, Điều 279, Điều 280 BLTTDS. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Quan điểm giải quyết vụ án

Về kháng nghị

Theo những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, xét thấy:

* Về tố tụng:

- Xác định tư cách người tham gia tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Phước Đ1 được nguyên đơn bà Nguyễn Thị C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh V ủy quyền cho ông Đ1 làm người đại diện tham gia tố tụng.

Qua xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh V, cụ thể ông V yêu cầu bà Nguyễn Thị C (nguyên đơn) và bị đơn (những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn O) làm thủ tục chuyển nhượng phần đất có diện tích 151,4m² thuộc một phần thửa 23 tờ bản đồ 8-3 đất tọa lạc tại Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của ông V và bà C có đối lập nhau nhưng ông V và bà C cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Phước Đ1 làm người đại diện tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung vụ án:

- Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/7/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 19/7/2023 nguyên đơn bà Nguyễn Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận Tờ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 03/6/2009.

Căn cứ nội dung “Tờ thỏa thuận” ngày 03/6/2009 có cơ sở xác định năm 2009 ông Nguyễn Văn O có thỏa thuận giao phần đất tranh chấp cho bà C để đổi lấy 10 cây vàng 24k. Tuy nhiên do đất không đủ điều kiện tách thửa nên các bên mới làm giấy thỏa thuận để bà C sử dụng đất lâu dài đến khi nào đủ điều kiện tách thửa thì làm thủ tục chuyển nhượng. Các ông bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn O gồm bà Nguyễn Thị K1; ông Nguyễn Văn M; ông Nguyễn Văn S; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị Mỹ H1; bà Nguyễn Thị Mỹ D; bà Nguyễn Thị Mỹ T1; ông Nguyễn Văn K cũng đồng ý trước đây ông O có cho đất bà C nhưng chỉ cho bà C sử dụng không cho mua bán chuyển nhượng, các ông bà cho rằng khi thỏa thuận có ghi rõ nội dung này trong văn bản nhưng các ông bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình.

Hiện nay, theo Quyết định 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/10/2021 của UBND tỉnh L thì phần đất tranh chấp (một phần thửa đất số 23 tờ bản đồ 8-3 theo mảnh trích đo số 136-2023 được Chi nhánh VPĐK Đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023 có diện tích 151,4m²) không đủ điều kiện tách thửa. Do đó, cần xác định rõ lại yêu cầu khởi kiện của bà C, trong trường hợp bà C chỉ yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà C đối với diện tích 151,4 m² thuộc một phần thửa 23 (theo mảnh trích đo số 136-2023) do ông O đang đứng tên thì có cơ sở xem xét chấp nhận.

- Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh V1:

Ông V1 yêu cầu bà C và ông K làm thủ tục chuyển nhượng một phần thửa đất số 23 tờ bản đồ 8-3 theo mảnh trích đo số 136-2023 được Chi nhánh VPĐK Đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023 có diện tích 151,4m². Chứng cứ ông V1 khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng với bà C, ông K là “Giấy cam kết” ngày 21/7/2010.

Theo “Giấy cam kết” ngày 21/7/2010 thì ông K đồng ý giao quyền sử dụng lâu dài cho ông V1 4m ngang của thửa đất 23 và thực tế ông K đã giao cho ông V1 4m ngang dài 19,8m để ông V1 đổ đất làm lối đi.

Như vậy, thực tế giữa ông V1 và bà C thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ phần đất mà bà C được nhận theo “Tờ thỏa thuận” ngày 03/6/2009 hay như thế nào? Giá chuyển nhượng là bao nhiêu? Vì sao “Giấy cam kết” ngày 21/7/2010 ông K chỉ giao cho ông V1 4m ngang để ông V1 đổ đất làm lối đi mà không giao hết toàn bộ diện tích đất bà C được nhận theo “Tờ thỏa thuận” ngày 03/6/2009? . Những vấn đề trên chưa được cấp sơ thẩm làm rõ.

Xét về căn cứ pháp lý của tờ thỏa thuận ngày 03/6/2009, giấy cam kết ngày 21/7/2010 thì chưa đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu độc lập của ông V1, bởi: bà C chưa đứng tên quyền sử dụng đất và giữa bà C và ông K cùng các đồng thừa kế của ông O còn có tranh chấp diện tích 151,4m² thuộc một phần thửa 23 (theo mảnh trích đo số 136-2023) nên bà C chưa đủ điều kiện thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai. Mặt khác giữa ông V1 và ông O, cũng như ông K không có xác lập giao dịch chuyển nhượng diện tích đất 151,4m² trên, nên không có cơ sở công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, buộc các bị đơn là hàng thừa kế thứ nhất của ông O giao đất theo yêu cầu của ông V1. Bản án sơ thẩm tuyên buộc tất cả các ông bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông O phải giao cho ông V1 phần đất diện tích 151,4m², thuộc một phần thửa đất số 23, do ông O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Theo mảnh trích đo số 136- 2023 được Chi nhánh VPĐK Đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023) là không đúng quy định pháp luật.

- Về kháng cáo: Như phân tích trên, do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cần phải hủy án giao về cấp sơ thẩm giải quyết lại. Do đó, yêu cầu của các bị đơn bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Mỹ H1, bà Nguyễn Thị Mỹ D, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Mỹ T1, bà Nguyễn Thị H2 sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.

Từ những phân tích trên cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, hủy án sơ thẩm giao về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự tự nguyện thống nhất thỏa thuận được nội dung vụ án: ông V1 được sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 151,4m² để làm lối đi. Do đó, căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị Mỹ H1 bà Nguyễn Thị Mỹ D, bà Nguyễn Thị Mỹ T1 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn T, bà Đào Thị Bạch L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị Mỹ H1 bà Nguyễn Thị Mỹ D, bà Nguyễn Thị Mỹ T1 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, thấy rằng:

[3.1] Phần đất các đương sự tranh chấp có diện tích 151,4m², thuộc một phần thửa đất số 23, tờ bản đồ 8-3, toạ lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An, do ông Nguyễn Văn O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Vị trí, diện tích phần đất tranh chấp theo mảnh trích đo số 136-2023 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023).

[3.2] Nguồn gốc thửa đất 23, tờ bản đồ số 8-3, diện tích 803,1m² là của ông Nguyễn Văn O. Năm 2003 ông Nguyễn Văn O chuyển nhượng thửa đất số 23 cho ông Nguyễn Văn T (con ruột ông O). Năm 2009 ông Nguyễn Văn T tặng cho thửa đất số 23 cho ông Nguyễn Văn K. Năm 2017 ông Nguyễn Văn K ký hợp đồng tặng cho thửa đất số 23 cho ông Nguyễn Văn O.

[3.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự trình bày thống nhất:

Vào ngày 03 tháng 6 năm 2009 ông Nguyễn Văn O thực hiện theo lời hứa của mẹ là bà Nguyễn Thị C1 cho ba người em gái là bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị S1 và bà Nguyễn Thị X 10 cây vàng 24K, các ông bà cùng thỏa thuận ông O giao phần đất có bề ngang 7,2m thẳng vô nhà bà Nguyễn Thị C để đổi 10 cây vàng 24K.

Thời điểm thỏa thuận, ông Nguyễn Văn K đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại tờ thỏa thuận ông K đồng ý giao phần đất của ông O cho ba người cô là bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị S1 và bà Nguyễn Thị X được quyền sử dụng lâu dài. Cũng tại tờ thỏa thuận bà Nguyễn Thị S1 và bà Nguyễn Thị X đồng ý giao lại toàn bộ phần đất nói trên cho bà Nguyễn Thị C được toàn quyền sử dụng đất lâu dài và bà Nguyễn Thị C được nhận phần đất nói trên từ ông Nguyễn Văn K chuyển nhượng sang một cách hợp pháp. Do phần đất không đủ diện tích tối thiểu để tách thửa nên trong tờ thỏa thuận của các bên có nội dung: “Do luật đất đai ban hành ngày 01/3/2009 không được phép chuyển nhượng đối với đất trồng lúa có diện tích dưới 1.500 m² nên chúng tôi làm giấy thỏa thuận này đồng ý để bà Nguyễn Thị C được sử dụng đất lâu dài đến khi Luật đất đai có sửa đổi cháu K sẽ làm thủ tục chuyển nhượng cho cô Nguyễn Thị C”. Tờ thỏa thuận ngày 03/6/2009 có chữ ký và vân tay của ông Nguyễn Văn O, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị S1, bà Nguyễn Thị Mỹ D và được Ủy ban nhân dân xã N xác nhận.

Tại tờ thỏa thuận ngày 03/6/2009 cả bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị S1 và bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn K xác định khi thỏa thuận giao 7,2m đất là lúc đó ông O chỉ ước chừng và ghi vào biên bản, không đo đạc thực tế. Ngay khi thỏa thuận là ông O và ông K đã giao đất cho bà C sử dụng. Các đương sự thống nhất phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo số 136-2023 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 30/01/2023 thì phần đất mà ông O và ông K đã giao cho bà C sử dụng có diện tích 151.4m², thuộc một phần thửa đất số 23, tờ bản đồ 8-3, toạ lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

[3.4] Theo Quyết định số 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/10/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành quy định về điều kiện tách thửa, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở và đát nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Long An thì phần đất có diện tích 151,4 m² thuộc một phần thửa đất số 23, tờ bản đồ số 8-3 không đủ điều kiện tách thửa.

[4] Bà Nguyễn Thị C có thửa đất số 26, tờ bản đồ số 8-3, toạ lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Thửa đất của bà C không có lối đi vào nên bà C đã sử dụng phần đất ông O, ông K giao cho bà C theo tờ thỏa thuận để làm lối đi, diện tích thực tế 151,4 m².

Ngày 18/6/2010 bà C đã chuyển nhượng cho ông V1 một phần thửa 26 với diện tích 147,4 m², ông V1 được cấp thành thửa 55. Ngày 18/4/2018 bà C tiếp tục chuyển nhượng cho ông V1 phần còn lại của thửa 26 với diện tích 311,3 m², ông V1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 26. Khi chuyển nhượng thì bà C chuyển nhượng luôn phần lối đi với giá 1.600.000.000 đồng.

Ông Phạm Thanh V nhận chuyển nhượng và đang quản lý sử dụng thửa đất số 26, 55 tờ bản đồ số 8-3 của bà Nguyễn Thị C. Trước đây bà C sử dụng thửa đất số 26, 55 tờ bản đồ số 8-3 không có lối đi vào nhà nên bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị S1 và bà Nguyễn Thị X thống nhất không nhận vàng của ông O mà chủ yếu nhận đất để bà C có lối đi vào nhà, nên khi bà C chuyển nhượng thửa 26, 55 tờ bản đồ số 8-3 cho ông V thì bà C chuyển nhượng luôn phần lối đi để ông V có lối đi vào hai thửa đất trên.

[5] Tại quyết định kháng nghị số 206/QĐ-VKS-DS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An kháng nghị đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm vì những sai sót, vi phạm thủ tục tố tụng ở Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ.

Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự tự nguyện thống nhất thỏa thuận được nội dung vụ án: Ông Phạm Thanh V được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 151,4m² để làm lối đi.

Xét thấy, việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các bên theo quy định vào Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[6] Về lệ phí đo đạc, thẩm định và thẩm định giá ở cấp sơ thẩm: 9.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị C tự nguyện chịu, bà C đã nộp xong.

[7] Xét kháng nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An và đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Thanh V tự nguyện chịu án phí án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị Mỹ H1, bà Nguyễn Thị Mỹ D, bà Nguyễn Thị Mỹ T1.

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 127/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 500, 501, 502 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 203 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
  2. Ông Phạm Thanh V được quyền sử dụng phần đất có diện tích 151,4 m², thuộc một phần thửa đất số 23, tờ bản đồ 8-3, toạ lạc tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An, do ông Nguyễn Văn O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm lối đi.

    Ông Phạm Thanh V có quyền và nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất hạn chế đối với phần đất nêu trên theo quy định tại Điều 95 và Điều 171 Luật đất đai.

    Vị trí, diện tích phần đất theo mảnh trích đo số 136-2023 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T, tỉnh Long An đo vẽ, ký duyệt ngày 30/01/2023.

  3. Về chi phí đo đạc, thẩm định và thẩm định giá ở Tòa án cấp sơ thẩm: 9.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị C tự nguyện chịu, bà C đã nộp xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Thanh V tự nguyện chịu án phí án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp là 748.000 đồng theo biên lai thu số 0007434 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Hoàn trả cho ông V số tiền 448.000 đồng.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị Mỹ H1 bà Nguyễn Thị Mỹ D, bà Nguyễn Thị Mỹ T1 phải liên đới chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006663 ngày 07/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/DS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 239/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger