|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 239/2024/HNGĐ-ST Ngày 17 – 4 – 2024 V/v ly hôn Linh – Thế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Phương và ông Võ Thái Quân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Nhân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST- HNGĐ, ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 118/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc L, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 14, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang
Bị đơn: Ông Huỳnh Trung T, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 01, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo khởi kiện ngày 14/12/2023 và lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Huỳnh Trúc L, trình bày:
Thông qua mai mối, chị L và anh T thành vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn và được UBND xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 67/2022 ngày 29/4/2022. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc. Đến tháng 03/2023 phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi nhau về chuyện tiền bạc, anh T thường uống rượu với bạn bè, đánh đạp và đuổi chị L về nhà mẹ ruột. Từ đó chị L quyết định không còn chung sống với anh T cho đến nay. Vì vậy chị L yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung tên Huỳnh Phúc D, sinh ngày 05/02/2023 đang do chị L nuôi dưỡng. Chị L yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng).
Chị L không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung.
Bị đơn anh Huỳnh Trung T trình bày.
Anh T và chị L được mai mối 01 tháng thì tổ chức lễ cưới vào tháng 4/2022, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh An Giang. Sau khi cưới vợ chồng lên tỉnh Bình Dương, anh T làm ở công ty G, còn vợ ở nhà (do cưới được khoảng 02 tháng thì vợ có thai nên không đi làm). Anh T đi làm về đưa tiền vợ cất giữ để chi tiêu sinh hoạt trong gia đình. Thỉnh thoảng vợ chồng cự cãi vì tính vợ hay bắt bẽ từng lời ăn tiếng nói nên vợ chồng bất đồng quan điểm. Do công việc nên anh T rất ít gặp mặt bạn bè, có lần anh T đi uống rượu với bạn, L biết được nên đóng cửa không cho anh T vào phòng trọ. Anh T phải điện thoại cho ba mẹ ruột và ba mẹ vợ khuyên thì L mới chịu mở cửa cho anh T vào. Cuối năm 2022, do vợ sắp sinh con nên vợ chồng về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Sau đó vợ chồng tiếp tục cự cãi do bất đồng quan điểm sống nhiều lần cự cãi. Gia đình hai bên dàn xếp nhưng chị L vẫn chứng nào tật nấy, tính tình hung hăn, không tôn trọng gia đình chồng. Mỗi lần cự cãi L giãy nảy la lớn tiếng làm phiền hàng xóm. Đến khoảng tháng 10/2023 L lại kiếm chuyện cự cãi L đập vỡ tấm gương, dùng mảnh vỡ kính quơ trúng vào tay của mẹ anh T làm chảy máu, anh T giận nên đuổi L ra khỏi nhà. L dọn đồ và đưa con về nhà mẹ ruột của L đến nay. Khoảng tháng 11/2023 L nộp đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu chia tài sản, qua động viên của Toà án L rút đơn và khởi kiện lại yêu cầu ly hôn.
Do mai mối và quá trình chung sống giữa anh T và L có quá nhiều mâu thuẫn vì vậy L yêu cầu ly hôn anh T đồng ý.
Về con chung: Anh T và L có một con chung tên Huỳnh Phúc D, sinh ngày 05/02/2023. Hiện nay đang sống với L. Anh T đồng ý giao con cho L nuôi dưỡng, anh T cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con thành niên.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
- + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu, cho chị Nguyễn Huỳnh Trúc L được ly hôn anh Huỳnh Trung T. Chị L và anh T có 01 con chung tên Huỳnh Phúc D, sinh ngày 05/02/2023, giao chị L được tiếp tục nuôi cháu D. Anh T cấp dưỡng cho cháu D mỗi tháng 01 triệu đồng. Đương sự không có tài sản chung, nợ chung nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm chị L phải chịu, án phí cấp dưỡng nuôi con anh T phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 136 do Ủy ban nhân dân xã P cấp ngày 19/11/2018 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Chị L yêu cầu ly hôn anh T đồng ý nhưng anh T vắng mặt khi hoà giải nên Toà án không công nhận thuận tình ly hôn giữa anh chị. Quá trình chung sống anh chị thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Xét thấy, anh chị vi phạm nghĩa vụ vợ chồng phải yêu thương, quan tâm và chung sống với nhau được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
- Về nuôi con chung:
Chị L và anh T có một con chung tên Huỳnh Phúc D, sinh ngày 05/02/2023. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay chị L là người trực tiếp nuôi con, và cháu D dưới 36 tháng tuổi nên chị L được tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Phúc D.
Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Phúc D mỗi tháng 1.000.000 đ (một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 4/2024 đến khi cháu D thành niên và lao động được.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
- Về hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 136 do Ủy ban nhân dân xã P cấp ngày 19/11/2018 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
- Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 322 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Huỳnh Trúc L.
- Về hôn nhân gia đình: chị Nguyễn Huỳnh Trúc L được ly hôn anh Huỳnh Trung T.
- Về con chung: Chị Nguyễn Huỳnh Trúc L được tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Phúc D sinh ngày 05/02/2023. Anh Huỳnh Trung T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Phúc D mỗi tháng 1.000.000 đ (một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 4/2024 đến khi cháu D thành niên và lao động được.
Chị L và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh T đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không
- Về nợ: Ghi nhận chị L và anh T trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
- Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006679 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Huỳnh Trung T phải chịu án phí cấp dưỡng 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Rỡ |
Bản án số 239/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 239/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L xin ly hôn T
