Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2024/DS-ST

Ngày: 15 - 5 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Điệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Vinh;

Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Quang là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 295/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2023 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 450/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T3 (tên cũ: Ngân hàng TMCP X); Trụ sở: Tầng A, 23, 24 Tòa nhà M, số B T, phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, bà Ngô Như T1, bà Nguyễn Thị Minh T2, ông Đào Đình M; Cùng địa chỉ liên lạc: Số D N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền số 441.03.009/2024/UQ-GĐCNSG ngày 18 tháng 3 năm 2024) - Vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H; Địa chỉ: 6 Tổ D, Khu phố G, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP X (nay đổi tên là Ngân hàng TMCP T3 và Phát triển) và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 04/07/2022, bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng tín dụng số 441.0096/2022/HĐTD-CN/PGBankSG với Ngân hàng TMCP X (tên mới: Ngân hàng TMCP T3 và Phát triển - gọi tắt là P) để vay số tiền 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng) và ngày 05/7/2022 hai bên ký khế ước nhận nợ số 441.0096/2022/KUNN/CN/PGBankSG với một số nội dung chính như sau: Mục đích vay vốn: vay mua bất động sản là thửa đất số 13, tờ bản đồ số 39, xã B, huyện C, TP .; Thời hạn vay: 240 tháng; Lãi suất cho vay: 10,7%/năm tại thời điểm rút vốn vay lần đầu; Điều chỉnh lãi suất: lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần theo quy định của P; lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh bằng lãi suất huy động 12 tháng trả lãi cuối kỳ cao nhất của P tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,7%/năm; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi chậm trả lãi: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Phương pháp tính lãi: số tiền lãi phải trả bằng (=) Dư nợ tính lãi nhân với (x) Lãi suất cho vay (%/năm) nhân với (x) số ngày vay thực tế chia cho (:) 365.

Để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng trên, bà Nguyễn Thị H đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 441.0096/2022/BĐ ngày 12/08/2022 được công chứng ngày 12/08/2022 tại Văn phòng C, thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 006881 quyển số 08/2022/TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp được đăng ký theo Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, TP . tiếp nhận theo số thứ tự 47562 và được chứng nhận cùng ngày 15/08/2022. Theo đó, tài sản thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho P gồm có: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY482161, số vào số cấp giấy chứng nhận CH 09676 do Ủy ban nhân dân huyện C, TP . Hồ Chí Minh cấp ngày 16/03/2015, cập nhật thay đổi chủ sử dụng ngày 28/7/2022 và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất đã, đang hoặc sẽ hình thành, phần giá trị công trình, phần diện tích cải tạo, tài sản mới, tài sản tăng thêm, phần giá trị tăng thêm do đầu tư, xây dựng gắn liền với diện tích đất đã thế chấp; Toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền (bao gồm nhưng không giới hạn bởi: hoa lợi, lợi tức, quyền nhận tiền bảo hiểm, quyền nhận tiền đền bù, tiền bồi thường, các khoản khác thu được, tài sản khác hình thành, thu được từ việc khai thác, sử dụng, thu hoạch, phá dỡ, các tài sản thuộc sở hữu của bên thế chấp liên quan đến các tài sản nêu trên...).

Thực hiện hợp đồng tín dụng trên, ngày 27/07/2022, P đã giải ngân theo khế ước nhận nợ số 441.0096/2022/KUNN/CN/PGBankSG ngày 05/07/2022 của bà H với tổng số tiền nhận nợ là 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỉ đồng). Gốc, lãi trả vào ngày 26 hàng tháng, bắt đầu từ 26/08/2022, trả trong vòng 240 tháng. Gốc mỗi tháng trả 12.500.000 đồng (Bằng chữ: Mười hai triệu, năm trăm ngàn đồng). Lãi tính theo dư nợ thực tế.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị H thường xuyên vi phạm nghĩa vụ trả nợ, P đã nhiều lần liên lạc, làm việc, bà H nhiều lần cam kết trả hết nợ nhưng không thực hiện được. P đã thông báo đến bà H về việc thu hồi nợ trước hạn và chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn nhưng đến nay, bà H vẫn không thực hiện được. Từ khi giải ngân đến thời điểm hiện tại, bà H mới trả được cho P tổng cộng: 79.310.100 đồng, trong đó: trả gốc: 25.086.095 đồng; trả lãi: 54.224.005 đồng (gồm lãi trong hạn: 53.532.980 đồng; lãi quá hạn: 691.025 đồng).

Tạm tính đến ngày 15/5/2024, bà Nguyễn Thị H còn nợ P số tiền là: 3.597.206.452 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ, năm trăm chín mươi bảy triệu, hai trăm lẻ sáu nghìn, bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó: nợ gốc là: 2.974.913.905 đồng; nợ lãi là: 622.292.547 đồng (gồm lãi trong hạn: 545.766.134 đồng; lãi quá hạn trên nợ gốc: 32.628.435 đồng; lãi chậm trả lãi: 43.897.979 đồng). Lãi sẽ tiếp tục được tính từ ngày 16/5/2024 cho đến khi khách hàng thanh toán toàn bộ khoản nợ cho P theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký. P yêu cầu bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ nêu trên một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bà H tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 16/5/2024 đến khi khoản nợ được trả hết theo dư nợ thực tế và mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng và đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ đã ký.

Theo quy định của pháp luật và thỏa thuận tại Điều 3, khoản 3 Điều 4 của Hợp đồng tín dụng thì từ thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, P có quyền chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn lại (kể cả nợ chưa đến hạn) sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn trên toàn bộ dư nợ gốc còn lại của khách hàng. Ngày 14/02/2023, P đã có thông báo cho khách hàng về việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ, chấm dứt cho vay và chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn kể từ ngày 15/3/2023. Nếu áp dụng cách tính lãi theo thỏa thuận thì lãi quá hạn đến ngày 15/5/2024 là: 791.514.958 đồng. Tuy nhiên, để hỗ trợ khách hàng trong việc trả nợ, P không áp dụng việc chuyển toàn bộ số dư nợ gốc sang quá hạn kể từ ngày 15/3/2023 mà áp dụng lãi quá hạn từng phần (áp lãi quá hạn trên phần gốc thực tế đã quá hạn). Áp dụng cách tính lãi này thì lãi quá hạn đến ngày 15/5/2024 là: 622.292.547 đồng là có lợi cho khách hàng.

Sau khi bà Nguyễn Thị H trả hết nợ, P sẽ trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY482161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 09676 do Ủy ban nhân dân huyện C, TP H cấp ngày 16/03/2015, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 28/7/2022. Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H không trả hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, P đề nghị Quý Tòa tuyên P được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản của bà H đã thế chấp tại P để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY482161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 09676 do Ủy ban nhân dân huyện C, TP H cấp ngày 16/03/2015, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 28/7/2022 để thu hồi nợ.

Sau khi phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản đảm bảo sau khi trừ đi các khoản chi phí thu hồi, bán tài sản và các chi phí liên quan khác,... P thu nợ còn thừa, P sẽ trả lại phần thừa cho chủ tài sản. Nếu P thu nợ còn thiếu thì bà Nguyễn Thị H phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với P.

Ngoài ra, bà Nguyễn Thị H phải hoàn trả chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà G đã tạm ứng là: 10.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không có mặt tại Tòa án để làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà H.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T, bà Ngô Như T1, bà Nguyễn Thị Minh T2, ông Đào Đình M vắng mặt có đơn xin vắng mặt, đã có bản tự khai phù hợp với yêu cầu khởi kiện và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn là bà Nguyễn Thị H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xác minh, thu thập chứng cứ; cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng; quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát đúng thời hạn; chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định về nội quy phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ hồ sơ vụ án thể hiện bà Nguyễn Thị H có giao kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP X (tên mới: Ngân hàng TMCP T3 và Phát triển - gọi tắt là P). Do bà Nguyễn Thị H vi phạm hợp đồng nên xảy ra tranh chấp. Vì vậy, có cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo kết quả xác minh của Công an phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Thị H trước đây có cư trú tại địa chỉ 6 Tổ D, Khu phố G, phường H, Quận A, hiện đi đâu không rõ. Theo kết quả xác minh của công an xã X, huyện L, tỉnh Bình Phước thì bà Nguyễn Thị H có hộ khẩu thường trú tại Tổ B, ấp Đ, xã X, huyện L, tỉnh Bình Phước nhưng không có mặt, không sinh sống tại địa chỉ trên mà tạm trú tại số A L, ấp B, xã P, huyện N, TP .. Theo kết quả xác minh của Công an xã P, huyện N thì Nguyễn Thị H không thực tế cư trú tại địa chỉ A L, ấp B, xã P, huyện N. Nguyên đơn không biết bà H hiện sinh sống, làm việc ở đâu. Tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng ngày 04/7/2022, bà Nguyễn Thị H cung cấp địa chỉ của bà tại 6 Tổ D, Khu phố G, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn không biết địa chỉ cư trú hiện tại của bị đơn, nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 5 và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, có cơ sở xác định đơn khởi kiện của nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn mà người khởi kiện biết được gần nhất, tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân Tối cao thì việc bà Nguyễn Thị H thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng đã ký mà không thông báo cho bên có quyền biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự 2015 được coi là cố tình giấu địa chỉ, nên xác định bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ 6 Tổ D, Khu phố G, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP T3 và Phát triển do bà Nguyễn Thị T, bà Ngô Như T1, bà Nguyễn Thị Minh T2, ông Đào Đình M là người đại diện theo ủy quyền vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vắng mặt không có lý do, không có lời khai và các tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án để thể hiện sự phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà Nguyễn Thị H đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và lấy yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc là 2.974.913.905 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định, ngày 04/07/2022, bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng tín dụng số 441.0096/2022/HĐTD-CN/PGBankSG với P và ngày 05/7/2022 ký khế ước nhận nợ số 441.0096/2022/KUNN/CN/ PGBankSG để vay số tiền 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng), mục đích vay vốn: mua bất động sản là thửa đất số 13, tờ bản đồ số 39, xã B, huyện C, TP .; thời hạn vay: 240 tháng; Lãi suất cho vay: 10,7%/năm tại thời điểm rút vốn vay lần đầu; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi chậm trả lãi: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, từ khi giải ngân đến thời điểm hiện tại, bà H mới trả được cho P tổng cộng: 79.310.100 đồng, trong đó: trả gốc: 25.086.095 đồng; trả lãi: 54.224.005 đồng (gồm lãi trong hạn: 53.532.980 đồng, lãi quá hạn nợ gốc: 298.579 đồng; lãi chậm trả lãi: 392.446 đồng). Hiện bà H còn nợ số tiền gốc là 2.974.913.905 đồng và đã bỏ đi khỏi nơi cư trú không thông báo cho Ngân hàng về địa chỉ cư trú mới. Do bị đơn không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng là đã vi phạm thỏa thuận tại Điều 3 của hợp đồng tín dụng và mục 8 khế ước nhận nợ, nên căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Ngân hàng buộc bị đơn phải trả nợ là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về tiền lãi: Theo thỏa thuận tại Điều 3, khoản 3 Điều 4 của Hợp đồng tín dụng và mục 5, mục 8 của khế ước nhận nợ thì thời hạn trả nợ là 240 tháng (tương ứng với 240 kỳ thanh toán). Từ thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, P có quyền chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn lại (kể cả nợ chưa đến hạn) sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn trên toàn bộ dư nợ gốc còn lại của khách hàng. Theo thỏa thuận thì lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả lãi bằng 150% lãi suất trong hạn nhưng không quá 10%/năm. Tuy nhiên, thực tế khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/3/2023, P không áp dụng việc chuyển toàn bộ số dư nợ gốc sang quá hạn, mà áp dụng lãi quá hạn từng phần (áp lãi quá hạn trên phần gốc thực tế quá hạn ở từng kỳ trả nợ) với số tiền lãi tính đến ngày 15/5/2024 là: 622.292.547 đồng (gồm lãi trong hạn: 545.766.134 đồng; lãi quá hạn trên nợ gốc: 32.628.435 đồng; lãi chậm trả lãi: 43.897.979 đồng) là có lợi cho bị đơn và cũng phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N; Điều 7 và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.

[6] Xét việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số nợ trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.

[7] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H không trả hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, P yêu cầu phát mãi tài sản của bà H đã thế chấp tại P để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY482161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 09676 do Ủy ban nhân dân huyện C, TP H cấp ngày 16/03/2015, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 28/7/2022 để thu hồi nợ. Sau khi phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ nếu còn thiếu thì bà Nguyễn Thị H phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với P. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 441.0096/2022/BĐ được công chứng ngày 12/08/2022 tại Văn phòng C, thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 006881 quyển số 08/2022/TP/CC-SCC/HĐGD và được đăng ký thế chấp theo Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, TP . chứng nhận cùng ngày 15/08/2022, thửa đất số 13, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY482161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 09676 do Ủy ban nhân dân huyện C, TP . Hồ Chí Minh cấp ngày 16/03/2015, cập nhật thay đổi chủ sử dụng sang bà Nguyễn Thị H ngày 28/7/2022. Hợp đồng thế chấp có nội dung phù hợp quy định tại Điều 293, Điều 294, Điều 295 và Điều 298 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp luật. Do bị đơn bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ Điều 299 và 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu của P về việc được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp, và trong trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ của bị đơn với P, thì bị đơn phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho P là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

[10] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng do bị đơn bà Nguyễn Thị H chịu. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền trên, nên căn cứ Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn 10.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

[11] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 2 và khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; điểm e khoản 1 Điều 192; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 40, Điều 293, Điều 294, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 303, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 385, Điều 401, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 5, khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào Điều 7, Điều 8 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T3 (tên cũ: Ngân hàng TMCP X):
    1. Buộc bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP T3 và Phát triển số tiền nợ tính đến ngày 15 tháng 5 năm 2024 là: 3.597.206.452 đồng (Ba tỷ, năm trăm chín mươi bảy triệu, hai trăm lẻ sáu nghìn, bốn trăm năm mươi hai đồng), bao gồm, nợ gốc là: 2.974.913.905 đồng (Hai tỷ, chín trăm bảy mươi bốn triệu, chín trăm mười ba nghìn, chín trăm lẻ năm đồng); lãi trong hạn là: 545.766.134 đồng (Năm trăm bốn mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi sáu nghìn, một trăm ba mươi bốn đồng); lãi quá hạn nợ gốc là: 32.628.435 đồng (Ba mươi hai triệu, sáu trăm hai mươi tám nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng); lãi chậm trả lãi là: 43.897.979 đồng (Bốn mươi ba triệu, tám trăm chín mươi bảy nghìn, chín trăm bảy mươi chín đồng) phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 441.0096/2022/HĐTD-CN/PGBankSG ngày 04/7/2022 và khế ước nhận nợ số 441.0096/2022/KUNN/CN/PGBankSG ngày 05/7/2022. Việc trả nợ thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật;
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà bà Nguyễn Thị H phải thanh toán cho nguyên đơn cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của bên cho vay.
    3. Trường hợp bà Nguyễn Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP T3 và Phát triển có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp đã được xác lập theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 441.0096/2022/BĐ được công chứng ngày 12/08/2022 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY482161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 09676 do Ủy ban nhân dân huyện C, TP . Hồ Chí Minh cấp ngày 16/03/2015, cập nhật thay đổi chủ sử dụng sang bà Nguyễn Thị H ngày 28/7/2022, để thu hồi nợ;
    4. Số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm sau khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ và các khoản chi phí theo quy định của pháp luật, số tiền còn lại được trả cho bà Nguyễn Thị H. Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bà Nguyễn Thị H phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP T3 và Phát triển đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ nêu trên.
  2. Ngay sau khi bà Nguyễn Thị H đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP T3 và Phát triển có nghĩa vụ hoàn trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY482161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 09676 do Ủy ban nhân dân huyện C, TP H cấp ngày 16/03/2015, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 28/7/2022 cho bà Nguyễn Thị H.
  3. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm là 103.944.129 đồng (Một trăm lẻ ba triệu, chín trăm bốn mươi bốn nghìn, một trăm hai mươi chín đồng) do bà Nguyễn Thị H chịu;
    2. Trả lại cho Ngân hàng TMCP T3 (tên cũ: Ngân hàng TMCP X) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 48.126.885 đồng (Bốn mươi tám triệu, một trăm hai mươi sáu nghìn, tám trăm tám mươi lăm đồng) theo Biên lai thu số 0030110 ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.
  4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho Ngân hàng TMCP T3 và Phát triển số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- TAND TP.Hồ Chí Minh;

- Viện KSND Quận 12;

- Chi cục THADS Quận 12;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Điệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 239/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger