Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2024/HS-ST

Ngày: 06/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Tưởng Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Ngọc Minh
Ông Nguyễn Tiến Phúc

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 191/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXST-HS ngày 21/8/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trí D, sinh năm 1993; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. HKTT: số E đường N, T, quận T, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Trình độ văn hóa: 09/12; con ông: Nguyễn Thanh T, con bà Nguyễn Thị Lan C. Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trần Thị T1, sinh năm 1993; Con: có 02 con, con lớn, sinh năm 2015; con nhỏ, sinh năm 2017

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: - Ngày 01/6/2009, Công an quận T xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2010/HSST ngày 27/9/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 15 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (đã được xóa án tích);

- Bản án hình sự sơ thẩm số 188/2012/HSST ngày 31/5/2012 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 22 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Tổng hợp với hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2010/HSST ngày 27/9/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 36 tháng 21 ngày. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/9/2014 (đã được xóa án tích);

- Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2018/HSST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân thị quận Nam Từ Liêm xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2021 (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • -Anh Đỗ Công A, sinh năm 2002; hiện trú tại: số C ngõ B N, quận T, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt
  • - Chị Phạm Thị Thanh T2; HKTT: Tổ 1 Q, H, quận H, thành phố Hải Phòng. Hiện trú tại: số nhà C, ngõ B N, quận T, T, Hà Nội. Vắng mặt
  • - Anh Nguyễn Trung A1, sinh năm 1986; trú tại: số A ngõ H, T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 18/4/2024 Nguyễn Trí D đi xe ôm từ phòng trọ tại: số C, ngõ B N, phường T, quận T, TP . đến khu vực nghĩa trang C1, phường H, quận H, TP . mục đích để tìm mua ma túy tổng hợp dạng đá về để sử dụng cho bản thân và có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Khi đến khu vực cổng nghĩa trang C1, D xuống xe đi bộ thì gặp một người nam giới không quen biết khoảng 30 tuổi, D tiến lại gần và hỏi “anh có đá không bán cho em” (ý D hỏi mua ma túy tổng hợp dạng đá), người nam giới trả lời “mày mua bao nhiêu”, D nói “bán cho em chín trăm nghìn đá”, người nam giới nói “đưa tiền đây”, thấy vậy D lấy trong túi quần ra số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) đưa cho người nam giới này, anh ta cầm tiền rồi đưa lại cho D 01 (một) hộp giấy màu xanh bên trong có 01 (một) túi nilong màu trắng chứa ma túy tổng hợp dạng đá. D cầm hộp giấy chứa ma túy vừa mua được cất vào túi quần đang mặc bên phải rồi đi xe ôm về

phòng trọ. Khi về đến phòng trọ, lúc này trong phòng có Phạm Thị Thanh T2 (Sinh năm 2000, HKTT: TỔ A, Q, H, quận H, thành phố Hải Phòng) là bạn gái của D đang ngủ trên gác xép, sau đó D ngủ dưới đệm trên sàn nhà.

Đến khoảng 17 giờ 58 phút cùng ngày, Nguyễn Anh T3 (sinh năm 1986, HKTT: số A, ngách A, ngõ H, T, phường N, quận H, TP .) sử dụng số điện thoại 0522.139.xxx gọi đến số 0886976489 của D, qua điện thoại T3 tự giới thiệu tên là H và hỏi “em có đá không bán cho anh một triệu”, thấy vậy D nói “có, em giao cho anh ở đâu”, cả hai hẹn nhau tại ngã 5 H, quận H, TP . để giao dịch mua bán ma túy khi đến điểm hẹn D sẽ gọi cho T3. Sau đó D mang theo hộp giấy chứa ma túy mua được lúc sáng rồi rủ T2 đi cùng xuống quận H, TP . chơi, T2 đồng ý. Lúc này D điều khiển xe máy Honda Dream BKS: 88S5-1782 sơn màu nâu, chở T2 đến điểm hẹn với T3. Khi đến khu vực ngã 5, H, quận H, TP ., D dừng xe tại vỉa hè trước cửa số nhà L khu nhà ở Sông C, H, Phường H, quận H, TP ., lúc này khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày D bảo T2 xuống xe, đồng thời D lấy hộp giấy màu xanh bên trong có ma túy đá từ trong túi quần đang mặc bên phải ra đưa cho T2 và nói “em cầm để hộ anh vào chỗ ghế đá”, còn D cầm điện thoại để gọi cho T3. Khi T2 cầm hộp giấy, chuẩn bị để vào ghế đá thì đúng lúc này bị lực lượng công an phường H phát hiện bắt quả tang. (Bút lục 52)

Cùng lúc này, Công an phường H, quận H, thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện Nguyễn Anh T3 đang đứng chờ mua ma túy của Nguyễn Trí D, thu giữ 01 chiếc điện thoại di động lắp sim số 0522139313, lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản tại chỗ và đưa T3 về trụ sở để điều tra, làm rõ.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ, gồm:

  • - Thu giữ của Phạm Thị Thanh T2: 01(một) hộp giấy màu xanh kích thước (10x2,5×2,5)cm bên trong có 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước (2x2,5)cm chứa tinh thể màu trắng.
  • - Thu giữ của Nguyễn Trí D: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát: 88S5-1782, có số khung: RLHHA-08056Y081835, số máy: HA08E-0931920; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số IMEI 1:353730391701211, IMEI 2:353730391639692, điện thoại lắp Sim số: 0886.976.xxx.
  • - Thu giữ của Nguyễn Anh T3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J2 Prime màu vàng, số IMEI 1:354072090108227, IMEI 2: 354073090108225, điện thoại lắp Sim số: 0522.139.xxx.

Tại Kết luận giám định số 2989/KLGĐ-PC09 ngày 28/4/2024 của Phòng PC09 - Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Me thamphetamine, khối lượng: 0,299 gam”.

Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ và số tiền sử dụng mua ma túy: Trong quá trình điều tra Nguyễn Trí D khai nhận số ma túy bị lực lượng Công an thu giữ là do ngày 18/4/2024 D đi tìm mua được của một người nam giới không quen biết tại khu vực cổng nghĩa trang C1, phường H, quận H, TP . với giá 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng), số tiền này là do D lao động mà có. D không biết rõ nhân thân lý lịch, địa chỉ, họ tên của người đã bán ma túy cho D là gì ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với Phạm Thị Thanh T2, do không biết việc D mang ma túy đi để bán và không biết việc D cất giấu ma túy bên trong hộp giấy khi đưa cho T2 cầm hộ nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T2.

Đối với Nguyễn Anh T3: Do chưa gặp Nguyễn Trí D và chưa mua được ma túy của D nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Nguyễn Anh T3 .

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát: 88S5-1782 là phương tiện D dùng để đi bán ma túy. Qua điều tra xác minh, xác định được chiếc xe này là của anh Đỗ Công A (Sinh năm 2002, HKTT: Thôn T, xã Y, huyện M, TP .) là người cùng trọ tại địa chỉ số C, ngõ B N, phường T, quận T, TP .. Chiếc xe này là do anh Công A mua lại của một người không quen biết tại chợ X đầu năm 2020 với giá 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) khi mua có giấy tờ đầy đủ nhưng do thời gian đã lâu nên anh Công A đã làm mất giấy chứng nhận đăng ký của chiếc xe trên. Việc Nguyễn Trí D mượn xe dùng làm phương tiện đi bán ma túy ngày 18/4/2024 anh Công A hoàn toàn không biết.

Xác minh chủ sở hữu đã xác định được chị Nguyễn Thùy L (Sinh năm 1983; HKTT: Tổ 2, H, TP ., tỉnh Vĩnh Phúc) là người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe, chị L trình bày: chiếc xe trên là do chị mua và đăng ký chính chủ vào tháng 9/2007, do không có nhu cầu sử dụng nên đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết tại chợ X vào khoảng tháng 5/2019, khi bán xe có giấy tờ mua bán nhưng chị L đã làm mất. Hiện chị L không biết ai là người đang sử dụng chiếc xe trên. Chiếc xe máy nêu trên không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra bàn giao chiếc xe trên đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hà Đông, chờ xử lý theo quy địn

Tại bản cáo trạng số 187/CT-VKS-HĐ ngày 22/7/2024 của VKSND quận Hà Đông truy tố Nguyễn Trí D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trí D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của

mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Trí D từ 30 đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Nguyễn Trí D, Phạm Thị Thanh T2, Cán bộ Công an Trần Tuấn N, giám định viên Nguyễn Văn H.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát: 88S5-1782, có số khung: RLHHA-08056Y081835, số máy: HA08E-0931920;

Trả lại chị Nguyễn Thị Thanh T4 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số IMEI 1:353730391701211, IMEI 2:353730391639692, điện thoại lắp Sim số: 0886.976.xxx.

Trả lại Nguyễn Anh T3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J2 Prime màu vàng, số IMEI 1:354072090108227, IMEI 2: 354073090108225, điện thoại lắp Sim số: 0522.139.xxx.

Phần tranh luận bị cáo nhất trí không tranh luận gì với luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho và trả lại bị cáo xe máy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành

tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 18/4/2024 tại trước cửa số nhà L, Khu nhà ở Sông C, H, phường H, quận H, TP .; Nguyễn Trí D đã có hành vi mua bán trái phép 01 túi nilong màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,299 gam với mục đích bán kiếm lời thì bị lực lượng Công an phường H, TP . kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng số 187/CT-VKS-HĐ ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất vụ án: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, xâm phạm tới độc quyền quản lý biệt dược của Nhà nước về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn mà còn tiếp tay cho các đối tượng nghiện ma túy, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn trong xã hội. Nhân thân bị cáo có 03 tiền án đã được xóa án, nhưng vẫn bị coi là bị cáo có nhân thân xấu, điều đó thể hiện bị cáo là người khó cải tạo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :

  • -Tình tiết tăng nặng: Không
  • -Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra, và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Nhưng xét thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, việc áp dụng hình phạt tiền không khả thi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về tang vật của vụ án:

  • - Đối với lượng ma túy thu giữ của Phạm Thị Thanh T2 không còn giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
  • - Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát: 88S5-1782, có số khung: RLHHA-08056Y081835, số máy: HA08E-0931920 là phương tiện D dùng để đi giao ma túy. Qua điều tra xác minh, xác định được chiếc xe này là của

anh Đỗ Công A. Chiếc xe này là do anh Công A mua lại của một người không quen biết tại chợ X đầu năm 2020 với giá 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) khi mua có giấy tờ đầy đủ nhưng do thời gian đã lâu nên anh Công A đã làm mất giấy chứng nhận đăng ký của chiếc xe trên. Việc Nguyễn Trí D mượn xe dùng làm phương tiện đi bán ma túy ngày 18/4/2024 anh Công A hoàn toàn không biết. Xác minh chủ sở hữu đã xác định được chị Nguyễn Thùy L (sinh năm 1983; HKTT: Tổ 2, H, TP ., tỉnh Vĩnh Phúc) là người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe, chị L trình bày: chiếc xe trên là do chị mua và đăng ký chính chủ vào tháng 9/2007, do không có nhu cầu sử dụng nên đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết tại chợ X vào khoảng tháng 5/2019, khi bán xe có giấy tờ mua bán nhưng chị L đã làm mất. Hiện chị L không biết ai là người đang sử dụng chiếc xe trên. Chiếc xe máy trên không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Nên trả lại chiếc xe trên cho anh Đỗ Công A.

  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh thu giữ của bị cáo. Bị cáo khai điện thoại là của Phạm Thị Thanh T2, xét thấy T2 cho bị cáo mượn để sử dụng, việc bị cáo sử dụng trao đổi ma túy chị T2 không biết. Vì vậy trả chiếc điện thoại trên cho chị T2.
  • - Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J2 Prime màu vàng thu giữ của Nguyễn Trung A1. Xét thấy điện thoại anh Trung A1 sử dụng để trao đổi mua bán ma túy nhưng hành vi của của Trung A1 chưa cấu thành tội phạm nên trả lại anh Trung A1 chiếc điện thoại trên.

[7] Về nguồn gốc ma túy thu giữ của bị cáo: bị cáo Nguyễn Trí D khai mua của một người nam giới không quen biết tại khu vực cổng nghĩa trang C1, phường H, quận H, D không biết rõ nhân thân lý lịch, địa chỉ, họ tên của người đã bán ma túy cho D nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ là phù hợp.

Đối với Phạm Thị Thanh T2, do không biết việc D mang ma túy đi để bán và không biết việc D cất giấu ma túy bên trong hộp giấy khi đưa cho T2 cầm hộ nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T2 là phù hợp

Đối với Nguyễn Anh T3: Do chưa gặp Nguyễn Trí D và chưa mua được ma túy của D nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Nguyễn Anh T3 là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 45; 46; 47, 106, 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án;

1- Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trí D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2- Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Trí D 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam 18/4/2024;

3- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • -Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Nguyễn Trí D, Phạm Thị Thanh T2, Cán bộ Công an Trần Tuấn N, giám định viên Nguyễn Văn H.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát: 88S5-1782, có số khung: RLHHA-08056Y081835, số máy: HA08E-0931920;
  • Trả lại chị Nguyễn Thị Thanh T4 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số IMEI 1:353730391701211, IMEI 2:353730391639692, điện thoại lắp Sim số: 0886.976.xxx thu giữ của Nguyễn Trí D.
  • Trả lại Nguyễn Anh T3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J2 Prime màu vàng, số IMEI 1:354072090108227, IMEI 2: 354073090108225, điện thoại lắp Sim số: 0522.139.xxx.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

4- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trí D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về nội dung liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Hà Đông ;
  • - VKSND quận Hà Đông ;
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - Trại tạm giam số 2 CA TP Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tưởng Thị Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 239/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trí D có hành vi Mua bán trái phép 0.299g chất ma túy loại Methamphetamine
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger