TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 239/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 8 - 2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Sang.
- Bà Đào Thị Thu Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Quách Thuận An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 386/2024/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 417/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 381/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Cam L, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Thạch Thị Cam L trình bày:
Bà Thạch Thị Cam L và ông Nguyễn Văn T do quen biết trước, cả hai đã tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 14/02/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi không có tiếng nói chung và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà L yêu cầu xin ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 19/5/2019. Hiện con đang sống chung với bà L, sau khi ly hôn bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Văn T đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Thạch Thị Cam L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Thạch Thị Cam L đối với ông Nguyễn Văn T.
- - Về con chung: Bà Thạch Thị Cam L được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 19/5/2019. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Thạch Thị Cam L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Văn T nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn T với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện C, tỉnh An Giang.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Thạch Thị Cam L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông T không đến tham gia phiên Tòa. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Cam L và ông Nguyễn Văn T tự tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vì mâu thuẫn vợ chồng, bà Thạch Thị Cam L cho rằng do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn kéo dài, không có tiếng nói chung và đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T. Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T biết về việc bà L xin ly hôn với ông T cũng như tạo điều kiện để ông T, bà L hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không có ý kiến đối với việc bà L xin ly hôn với ông, điều này chứng tỏ ông T không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được xem xét chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 19/5/2019. Hiện con đang sống chung với bà L, sau khi ly hôn bà L yêu cầu tiếp tục được nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Nhận thấy trong thời gian vợ chồng ly thân thì cháu B do bà L nuôi dưỡng vẫn phát triển khỏe mạnh nên việc bà L xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp với Điều 81 luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Bên cạnh việc được nuôi dưỡng con chung thì bà L và các thành viên gia đình bà L phải tạo điều kiện để ông T được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà Thạch Thị Cam L không có yêu cầu.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Do bà Thạch Thị Cam L không yêu nên không xét đến.
[3] Về án phí: Bà Thạch Thị Cam L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Thạch Thị Cam L với ông Nguyễn Văn T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 14/02/2019 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Thạch Thị Cam L và ông Nguyễn Văn T không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 19/5/2019.
Bà Thạch Thị Cam L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 19/5/2019.
Bà Thạch Thị Cam L và các thành viên gia đình bà L tạo điều kiện để ông T được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Thạch Thị Cam L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu số 0015513 ngày 23/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà L đã thực hiện xong.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Phương Quyền |
Bản án số 239/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 239/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn: Bà Thạch Thi Cam L xin ly hôn với ông Nguyễn V T
