Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2024/HS-ST

Ngày: 03/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Vũ Thị Tuyết Mai
Bà Ngô Thị Ngọc Bích
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phạm Hà Thanh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên

Ngày 03/5/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 648/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Huy H - sinh năm 1993; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, C, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không.

Con ông: Nguyễn Mạnh T - sinh năm 1970.

Con bà: Đào Thị N - sinh năm 1973.

Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị can là con thứ nhất.

Vợ: Thẩm Thị Như Q - sinh năm 1997.

Con: Có 02 con; lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Khánh T1, Công ty L5.

Có mặt

Bị hại:

1- Công ty cổ phần K, địa chỉ liên hệ Cửa hàng F ở số nhà D, phố N, phường N, quận B, Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Anh Đ (sinh năm 1984; trú tại thôn L, xã L, huyện Đ, Hà Nội), là nhân viên của Công ty. Có mặt

2- Công ty cổ phần T16, địa chỉ liên hệ Siêu thị T17 di động ở số nhà F, phố H, phường L, quận Đ, Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền là anh Đỗ Đức D (sinh năm 1991; trú tại phòng G, tòa B, chung cư B, phố K, phường K, quận T, Hà Nội ), là nhân viên của Công ty. Có mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1- Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1980; trú tại khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; là chủ cửa hàng mua bán điện thoại tại khu A phường G, V, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt

2- Chị Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1990; trú tại khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; là chủ cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại tại khu 22 xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt

3- Chị Thẩm Thị Như Q, sinh năm 1997; trú tại khu A, C, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

4- Ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1970 và bà Đào Thị N, sinh năm 1973. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu A, C, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Huy H (sinh năm 1993; trú tại khu A C, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ; ở tại số nhà B, ngõ C, phố P, phường N, quận B, Hà Nội) là người không có việc làm ổn định. Do muốn chiếm đoạt tiền và tài sản của người khác nên H đã thăm dò, quan sát, khảo sát trí vị trí lắp Camera, chuông báo động, tủ điện, chỗ để tài sản tại cửa hàng F ở số nhà D, phố N, phường N, quận B, Hà Nội và siêu thị T17 di động ở số F, phố H, phường L, quận Đ, Hà Nội, mục đích để tìm sơ hở, đột nhập vào bên trong trộm cắp tài sản. Qua nhiều lần quan sát, thấy có cơ hội nên H đã chuẩn bị thang chữ A, máy cắt sắt cầm tay, tuốc nơ vít, túi vải và dây dù để ban đêm phá cửa, đột nhập vào bên trong của hàng và siêu thị. Trong ngày 04/9/2022 và ngày 30/10/2022, H đã gây ra 02 vụ trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau:

1. Vụ thứ nhất: Ngày 04/9/2022, H có ý định và chuẩn bị từ trước các công cụ để đi trộm cắp tài sản tại cửa hàng F ở số nhà D, phố N, phường N, quận B, Hà Nội. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi H đang ở xưởng quảng cáo tại số nhà B, ngõ C, phố P, phường N, quận B thì nhìn thấy anh Nguyễn Văn L (sinh năm 1995; trú tại phường L, quận Đ, Hà Nội; là người làm cùng nghề sửa chữa điện lạnh) đi xe máy về đến xưởng. H nói với anh L: “Chở anh vác cái thang ra chỗ này để sửa biển quảng cáo cho khách”, anh L đồng ý. Sau đó, anh

L điều khiển xe máy chở H ngồi phía sau cầm theo 01 chiếc thang chữ A, 01 túi vải đựng máy cắt sắt cầm tay, tuốc nơ vít và dây dù. Khi đi đến trước cửa số nhà I, đường Đ, phường N, quận B, Hà Nội, H bảo anh L dừng xe lại và giữ thang cho H. H trèo lên tầng 02 của số nhà I, phố Đ rồi bảo anh L vác chiếc thang chữ A đi về trước. Sau đó, H đi trên mái nhà của các nhà dân liền kề nhau, đi sang cửa hàng F ở số nhà D, phố N, trèo vào sân tầng 02 và nằm trốn ở phía sau biển quảng cáo của cửa hàng, chờ cơ hội để trộm cắp tài sản. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi thấy nhân viên của cửa hàng F88 khóa cửa đi về, H dùng tuốc nơ vít phá cửa nhôm kính, đi vào phòng ở trên tầng 02. H tiếp tục dùng tuốc nơ vít phá khóa cửa phòng tầng 02, đi ra cầu thang sắt để đi xuống tầng 01. Do cuối cầu thang là cửa sắt đóng và bị khóa, H chui qua lỗ hổng ở lan can cầu thang, đột nhập vào phòng ở tầng 01. H ngắt át tô mát để cắt nguồn điện camera rồi mở cửa kính vào trong phòng làm việc thì chuông báo động kêu nên H chạy theo lối cũ lên trên tầng 02 và tiếp tục trốn sau biển quảng cáo. H chờ đến đêm khuya để tìm cách tiếp tục trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 05/9/2022, H tiếp tục quay lại phòng làm việc ở tầng 01. Khi chuông báo động kêu, H rút nguồn điện của chuông báo động rồi đi xuống tầng hầm và nhúng chuông vào chậu nước để trong bồn rửa tay. Sau đó, H đi lên tầng 01, dùng máy cắt phá khóa tủ sắt, lấy được 15 chiếc điện thoại các loại, gồm các nhãn hiệu Samsung, O, Iphone; 01 chiếc Laptop nhãn hiệu Dell; 02 chiếc Laptop nhãn hiệu Macbook. H tiếp tục dùng máy cắt phá két sắt để trong tủ sắt, lấy được 07 dây chuyền vàng; 20 nhẫn vàng (trong đó có 01 chiếc nhẫn vàng 14k có trọng lượng 0,7 chỉ, mặt có 01 viên đá trắng nhỏ ở giữa); 03 kiềng vàng; 02 lắc vàng. Toàn bộ số tài sản trộm cắp được, H cho tất cả vào túi vải rồi đi lên tầng 02, ra ngoài theo lối cũ và trèo cột điện xuống đường tẩu thoát.

Ngày 15/9/2022, H đến cửa hàng điện thoại số nhà H đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen cho anh Lê Trọng D1 (sinh năm 1992; trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; là chủ của hàng) được 7.800.000 đồng. Khi mua bán, anh D1 chuyển số tiền 7.800.000 đồng từ tài khoản số 19033550886010 mang tên Lê Trọng D1 mở tại Ngân hàng K1 (T18) đến tài khoản số [...] của H mở tại Ngân hàng C3 (V4). Chiếc điện thoại này, sau khi mua được 02 ngày, anh D1 đã bán cho một người không quen biết được 8.800.000 đồng. Hiện, Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại nêu trên.

Sáng ngày 16/9/2022, H đến cửa hàng kinh doanh, sửa chữa điện thoại tại số nhà B, phố L, phường T, quận N, Hà Nội bán chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung, màu vàng hồng cho anh Lâm Văn C (sinh năm 1988; trú tại thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; là chủ cửa hàng) được 10.000.000 đồng. Sau khi mua chiếc điện thoại, anh C đã bán lại cho một người không quen biết được 11.000.000 đồng. Hiện, Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại nêu trên.

Sau khi bán được chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung, màu vàng hồng cho anh C thì H tiếp tục đến cửa hàng kinh doanh, sửa chữa máy tính tại số nhà

A, phố L, phường B, quận H, Hà Nội bán chiếc Laptop nhãn hiệu Macbook, màu bạc cho anh Đặng Đức D2 (sinh năm 1988; trú tại số nhà A, phố L, phường B, quận H, Hà Nội; là chủ của hàng) được 6.500.000 đồng. Sau khi mua, anh D2 bán chiếc Macbook trên cho một người không quen biết, được 7.500.000 đồng. Hiện, Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc Laptop trên.

Ngày 30/9/2022, H mang 01 chiếc điện thoại, nhãn hiệu Samsung S21, màu đen bán cho anh Nguyễn Duy D3 (sinh năm 1985, trú tại thôn L, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; là người kinh doanh, sửa chữa điện thoại tại cửa hàng số A, phố L, phường T, quận N, Hà Nội) được 8.000.000 đồng. Sau khi mua được 03 ngày, anh D3 bán lại chiếc điện thoại cho một người không quen biết được 9.000.000 đồng. Hiện, Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Huy H khai mang 07 dây chuyền vàng, 19 nhẫn vàng, 03 kiềng vàng, 02 lắc vàng trộm cắp được tại cửa hàng F bán cho Nguyễn Phan H2 (sinh năm 1982; trú tại thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; là chủ cửa hàng V5 tại thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội) và chị Nguyễn Thị L1 (sinh năm 1977; trú tại thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; là chủ cửa hàng V5 tại thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội); bán 02 chiếc laptop nhãn hiệu Dell và nhãn hiệu Macbook cho Nguyễn Đức D4 (sinh năm 1993; trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; là chủ cửa hàng Đ1 số nhà E, phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội); bán 15 chiếc điện thoại các loại (S3, O, Iphone) cho các cửa hàng mua bán, sửa chữa, kinh doanh điện thoại tại số nhà B, phố P, phường T, quận N, Hà Nội do anh Ngô Văn T2 (sinh năm 1992; trú tại tô E, phường T, quận N, Hà Nội; là chủ cửa hàng); tại số nhà B, đường C, phường C, quận B, Hà Nội do Vũ Thị H3 (sinh năm 1989; trú tại thôn P, xã T, huyện M, Hà Nội; là chủ cửa hàng); tại số nhà B, phố T, phường T, quận H, Hà Nội do Vương Duy Q1 (sinh năm 1975; trú tại tập thể Công ty khai thác nước ngầm, phường H, quận H, Hà Nội; là chủ cửa hàng); tại cửa hàng kinh doanh điện thoại Dũng M ở thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội do Nguyễn Văn D5 (sinh năm 1995; trú tại thôn T, xã K, huyện Đ, Hà Nội; là chủ cửa hàng); tại cửa hàng kinh doanh điện thoại, địa chỉ số nhà E, phố T, phường T, quận H, Hà Nội do anh Tạ Văn T3 (sinh năm 1995; trú tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; là chủ cửa hàng). Tuy nhiên, Nguyễn Phan H2, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Đức D4, Ngô Văn T2, Vũ Thị H3, Vương Duy Q1, Nguyễn Văn D5, Tạ Văn T3 không thừa nhận đã mua tài sản của H mang đến bán. Bản thân H không nhận dạng được những người đã mua tài sản nên Cơ quan điều tra không có căn cứ, xác minh, làm rõ.

Ngày 09/11/2022, Nguyễn Huy H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

*Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án hồi 13 giờ 55 phút ngày 05/9/2022, thể hiện:

“... Hiện trường nơi xảy ra vụ trộm cắp tài sản ngày 05/9/2022 được xác định tại số nhà 46, phố Nguyễn Chí Thanh, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội.

Số nhà 46 phố Nguyễn Chí Thanh xây dựng gồm 03 tầng, phía bên trái giáp nhà 48 phố N, là cửa hàng phụ kiện điện thoại, phía bên phải là cửa hàng áo dài, phía trước là vỉa hè và lòng đường phố Nguyễn Chí T4. Nhà số D phố N được sử dụng làm cửa hàng có treo biển “F88”, nhà có 01 cửa ra vào gồm 02 lớp cửa; lớp ngoài là cửa cuốn, có kích thước (3,8x02)m, kiểm tra hệ thống ổ khóa trên cửa trong tình trạng bình thường; lớp trong là cửa làm bằng kính trắng, có kích thước (02x1,8)m, khóa cửa trong tình trạng bình thường. Qua cửa vào trong là tầng 01 để làm việc, có kích thước (2,9x3,8)m, trong phòng có để bàn, ghế, tủ đựng đồ và các vật dụng khác. Trong phòng, phía góc tường trái, đồ vật, tài sản bị lục lọi lộn xộn trên sàn. Tại vị trí giáp tường trái và tường cửa (theo hướng cửa nhìn vào) trên sàn trong tầng 01 là nơi để 01 tủ kim loại màu trắng bạc, kích thước (2,3x0,9x0,96)m. Tủ này có 03 ô tủ theo hàng dọc. Tại ô tủ thứ nhất từ dưới lên, có kích thước (0,5x0,85)m, bên trong ô tủ có 02 ngăn tủ; tại ngăn phía dưới có để 01 két sắt, kích thước (0,4x0,5x0,35)m, tại mặt phía ngoài của két sắt có dấu vết bị cắt, phá tạo lỗ thủng kích thước (14x22)cm, dày 04cm, xung quanh vết cắt có bê tông, xi măng, cát rơi vụn rải rác, bên trong két có để đồ vật, tài sản như dây chuyền, nhẫn vàng, vòng tay và bị mất. Tại ngăn tủ phía trên có để 01 giá nhựa màu xanh, kích thước (20x25x15)cm, bên trong giá nhựa để điện thoại di động và bị mất. Kiểm tra cánh tủ trên ô thứ 01, thấy có 01 ổ khóa ở giữa và 02 tai khóa phía trên, dưới, phần ổ khóa bị cậy phá để mở tủ, bờ mép cong vênh, nham nhở. Tại 02 tai móc khóa, thấy không còn ổ khóa (đã bị cắt phá), trên tai khóa có dấu vết bị cắt tạo vết, có kích thước (3,5x0,3)cm (vị trí số 01). Tại ô tủ thứ 02 từ dưới lên, ô này có kích thước (0,65x0,5)m; tại phân cánh cửa tủ có 01 cụm ổ khóa ở giữa và 02 móc khóa phía trên, dưới; tại phần ổ khóa ở giữa bị cạy phá, phần khóa phía trên bị mất ổ khóa tủ, xung quanh tai khóa có dấu vết bám muội đen, dạng của máy cắt để lại. Bên trong ô tủ này, có để nhiều Laptop, máy tính bảng, M1 và bị trộm cắp mất (vị trí số 02). Tại ô tủ thứ 03 từ dưới lên, ô này có kích thước (0,5x0,55)m, tại phần cánh cửa tủ có 01 ổ khóa ở giữa và 02 tai khóa phía trên, dưới; tại phần ổ khóa có dấu vết bị cậy, chọc phá, bờ mép nham nhở; tại phần tai khóa phía dưới bị cắt phá mất ổ khóa. Bên trong ô tủ này là nơi để tài liệu, giấy tờ, đồ vật; kiểm tra thấy đồ vật tương đối nguyên vẹn. Tại phần góc tủ phía dưới bên phải, phát hiện 01 ổ khóa màu đen, nhãn hiệu “VIET TIEP”, kích thước (8x5,5)cm, phần tai khóa màu trắng đường kính 0,8 cm, tai khóa này bị cắt đứt rời (vị trí số 03).

Kiểm tra khu vực xung quanh tủ, thấy có nhiều xi măng, bê tông rơi vỡ vụn nằm rải rác, đồ vật, tài sản khác nằm lộn xộn trên sàn. Tại vị trí trước tủ, cách tủ 0,4m, cách cửa ra vào 0,8m trên sàn, là nơi phát hiện có 02 ổ khóa chữ “U” màu vàng đồng, kích thước (6,4,5x1,3)cm, phần tai chốt khóa đường kính 0,8 cm trong tình trạng bị cắt đứt rời (vị trí số 04).

Tại vị trí trên sàn, cách cửa tủ 01m, cách cửa ra vào 0,5m, phát hiện có 01 phần còn lại của lưỡi cắt máy hình tròn, đường kính 10 cm, lưỡi cắt này trong tình trạng bị vỡ một nửa (vị trí số 05).

Tại tường bên phải cửa ra vào, có 01 cửa đi ra khu vực cầu thang, cửa có kích thước (09x1,9)m, qua cửa là lối đi lên xuống tầng, khu này rộng (1,6x3,2)m. Tại vị trí trên tường, cách sàn 2,2 m giáp tường cửa, là nơi có để 01 hộp điện Át tô mát, kích thước (20x15)cm, phần nắp đậy bị mở và cần gạt bên Át tô mát bị gạt xuống (tắt). Đối diện, có 01 cửa ra vào (cửa bên phải cửa chính), cửa có kích thước (1,52x2,16)m. Cửa này có 02 lớp, lớp ngoài là cửa cuốn, lớp trong là của kính, kiểm tra cửa không phát hiện dấu hiệu nghi vấn. ...”

*Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị can Nguyễn Huy H: 01 chiếc nhẫn vàng 14k, trọng lượng 0,7 chỉ, có 01 viên đá trắng nhỏ ở giữa (xác định là tài sản H trộm cắp tại cửa hàng F, số nhà D, phố N, phường N, quận B, Hà Nội).

Căn cứ lời khai của bị hại, lời khai bị can, bảng kê các tài sản cầm cố, thế chấp cho công ty K cung cấp, Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá và tại bản Kết luận định giá tài sản số 110/KLĐG-HĐĐGTS ngày 04/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự B, kết luận:

“...- 01 (một) nhẫn vàng 10k kèm mặt đá màu đen hình chữ nhật khắc ký hiệu ( ), trọng lượng cả đá 1,7 chỉ trị giá 1.900.000 đồng.

- 01 (một) dây chuyền vàng 18k kèm mặt ngọc bọc vàng (mặt đá màu xanh hình Phật Di Lặc), trọng lượng 0,6 chỉ (đã trừ đá) trị giá 1.650.000 đồng.

- 01 (một) nhẫn cưới vàng 14k kèm đá nhỏ, bên trong nhẫn khắc chữ H trái tim D 15.09.20..., trọng lượng 0.9 chỉ trị giá 2.250.000 đồng.

- 01 (một) nhẫn vàng 24k ở giữa có hình trái tim, trọng lượng nặng 01 chỉ trị giá 4.800.000 đồng.

- 01 (một) nhẫn vàng 18k họa tiết Cartier, trọng lượng 2.2 chỉ trị giá 5.500.000 đồng.

- 01 (một) nhẫn vàng trơn, Bảo Tín M vàng Rồng Thăng Long 999.9, trọng lượng 01 chỉ trị giá 5.100.000 đồng.

- 01 (một) dây chuyền vàng 18k (02 mắt vàng không họa tiết + 01 mắt trắng có họa tiết, xen kẽ nhau), trọng lượng 3,7 chỉ: Trị giá 11.300.000 đồng.

- 01 (một) nhẫn vàng nam 14k kèm đá 2,98 chỉ: Trị giá 7.000.000 đồng.

- 01 (một) bộ trang sức gồm 01 (một) dây chuyền vàng 18k cả mặt, trọng lượng 2,2 chỉ, 02 (hai) nhẫn vàng 18k trọng lượng 1,34 chỉ, 02 (hai) bông tai vàng 18k trọng lượng 0,6 chỉ trị giá 12.800.000 đồng.

- 01 (một) dây chuyền vàng 10k mắt trơn không họa tiết, trọng lượng 6,4 chỉ: Trị giá 10.000.000 đồng.

- 01 (một) cặp nhẫn vàng cưới B2 14k, mỗi chiếc có 01 viên đá trắng nhỏ ở giữa, tổng trọng lượng 1,5 chỉ cả đá trị giá 3.500.000 đồng.

- 01 kiềng vàng 24k họa tiết xung quanh có hình giống hoa sen, trọng lượng 01 cây trị giá 50.000.000 đồng.

- 01 (một) bộ trang sức gồm 01 (một) bản vị nhẫn 24k, Kim Gia B 01 chỉ, 02 (hai) bản vị nhẫn vàng B2 24k mỗi cái 01 chỉ, 03 (ba) nhẫn trơn vàng 24k mỗi cái 01 chỉ, 02 (hai) kiềng vàng 9999 24k họa tiết hoan văn, tổng trọng lượng 06 chỉ trị giá 60.000.000 đồng.

- 01 (một) bộ trang sức gồm 03 (ba) dây vòng cổ vàng 24k (gồm 01 dây mắt xích hình hoa, 01 dây mắt hình trụ, 01 dây mắt hạt lựu), 01 (một) dây vòng tay vàng 24k, mắt xích hình lá + 03 (ba) bông hoa ở giữa dây. Tổng trọng lượng là 1,69 cây trị giá 79.000.000 đồng.

- 01 (một) cặp nhẫn cưới vàng 14k hiệu Huy Thanh Jewelry, kèm đá nhỏ hình thoi ở giữa nhẫn, tổng trọng lượng 01 chỉ trị giá 2.500.000 đồng.

- 01 (một) lắc tay vàng 18k gồm đá màu trắng xanh đỏ và bọc vàng bên ngoài đá, tổng trọng lượng 01 cây (trừ đá còn 3.75 chỉ) trị giá 31.436.000 đồng.

- 01 (một) nhẫn vàng 24K họa tiết mặt vàng hình vuông, bên trong hình vuông nhìn giống hình con mèo, trọng lượng 0.92 chỉ trị giá 4.375.000 đồng.

- 01 (một) nhẫn trơn vàng ta 9999, bên trong có khắc chữ Kim T5, trọng lượng 01 chỉ trị giá 4.300.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Apple iPhone 11 - 64 Gb 2019, màu đỏ, vỏ xước nhẹ xung quanh, I số 356542107492275, Serial: F4GC4911N72L trị giá 7.100.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Apple iPhone 11 Pro - 256 Gb 2019, màu đen, vỏ xước nhẹ xung quanh, I số 352827112896915, Serial: C39D3366N6Y6 trị giá 10.600.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại S3 A23 2022, màu xanh da trời nhạt, Imei số 354650130773553, Serial: R58T31Y157T trị giá 2.000.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại S3 10 Plus 2019, xước nhẹ xung quanh, mặt lưng màu bạc phản quang, viền máy màu bạc, Imei số 359271102615998, S: R38M807Z7RF: Trị giá 4.900.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Xiaomi Redmi Note 10 Pro 2021, màu đen, Imei số 863507054805809, Serial: 31743KX1XX17196: Trị giá 3.000.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Apple iPhone X - 64 Gb Gray, S, xước nhẹ xung quanh, màu đen, Imei số 359403084985616, Serial: G6VVPWA1JCLH trị giá 3.950.000 đồng.

- 01 (một) chiếc điện thoại Apple iPhone 13 - 256 Gb 2021, máy còn mới, màu hồng nhạt, I số 351145704194594, Serial: Y95J36GWHJ trị giá 16.000.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại S3 Flip 3 5G 2021, xước nhẹ xung quanh, màu đen, Imei số 355001765932644, Serial: R5CRC0DVQPW trị giá 10.300.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy S21 Ultra 2021, xước nhẹ xung quanh, màu xanh đen, I sô 354505627740228, Serial: R5CRA26X7AF trị giá 12.500.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Apple iPhone X - 64 Gb Gray, S, xước viền nhiều, màu trắng, I sô 353048093712919, Serial: G6VVXV1NJCLJ trị giá 3.950.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy Z Fold2 2021, máy còn khá mới, màu vàng hồng, I số 354156120328994, Serial: R3CR30GKJ9D trị giá 16.500.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Apple iPhone 11 Pro - 256 Gb 2019, xung quanh máy xước nhiều, màu gold, Imei 353896101051427, Serial: FK1ZCZYEN70K trị giá 11.400.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Apple iPhone 11 Pro Max - 64 Gb 2019, xước nhẹ, màu đen, Imei số 353914103338641, Serial: FK1ZK2GZN70W trị giá 10.900.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Oppo Reno 5 2020, xước nhẹ xung quanh, màu xanh than, I sô 865545051706214, Serial 569dc5a6 trị giá 3.450.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Apple iPhone 8 Plus-128 Gb Gray, S, Gold 2017, xước nhẹ xung quanh, màu đỏ, I số 356110092384236, Serial F17WQ2FDJWLK trị giá 4.500.000 đồng.

- 01 (một) laptop DELL Inspiron 5502/Corei5-1135G7/RAM 8GB/HDD 500GB, mặt sau lưng bị xước, màu bạc, Serial D5K2B63 trị giá 13.000.000 đồng.

- 01 (một) laptop Apple 13 Macbook Air/Core i3 1.1Ghz/Ram 8Gb/ Ssd 256Gb 2020, máy còn khá mới, không kèm sạc, màu bạc, Serial FVFDMC67MNHP trị giá 14.500.000 đồng.

- 01 (một) laptop Apple I5 Macbook Pro/Core i5 1.4Ghz/Ram 8Gb/Ssd 256Gb 2020, xung quanh máy xước ít, màu xám bạc, Serial FVFDL5VMP3XY trị giá 14.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 460.461.000 đồng...”

Ngày 27/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho anh Nguyễn Anh Đ (sinh năm 1984; trú tại thôn L, xã L, huyện Đ, Hà Nội; là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần K) số tài sản gồm 01 chiếc nhẫn vàng 14k, trọng lượng 0,7 chỉ, có 01 viên đá trắng nhỏ ở giữa (có trị giá 1.750.000 đông.)

*Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Anh Đ yêu cầu bị can Nguyễn Huy H phải bồi thường số tiền là 458.711.000 đồng, là tổng giá trị tài sản bị mất chưa thu hồi được. Đối với các tài sản gồm két sắt, bộ báo động, 03 chiếc khóa anh Đ không yêu cầu bồi thường.

2. Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 30/10/2022, H điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển kiểm soát 38N6-5614, mang theo 01 túi dù màu xanh; 01 máy cắt; 01 tuốc nơ vít; 01 đoạn dây dù, đi từ phố P, quận B, Hà Nội đến siêu thị T17 di động ở số nhà F, phố H, phường L, quận Đ, Hà Nội với mục đích trộm cắp tài sản. Đến nơi, H để xe máy trên vỉa hè, trèo lên cây hoa giấy trước số nhà I phố H, sau đó trèo lên mái nhà, rồi đi sang mái nhà của siêu thị T17 di động. H ngồi nấp sau biển quảng cáo, chờ đợi để đột nhập vào trong cửa hàng. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, thấy nhân viên của siêu thị T17 di động khóa cửa đi về, H dùng dụng cụ cậy phá rào sắt trên mái nhà, cậy trần thạch cao và dùng dây dù đu xuống. Lúc này, đèn và chuông báo động ở trong siêu thị phát ra tín hiệu, H đã tháo dỡ và ngắt thiết bị báo động. Sau đó, H mở tủ kính trưng bày điện thoại di động ở sát tường phía bên trái, lấy 13 chiếc điện thoại di động các loại, gồm: 05 điện thoại nhãn hiệu Iphone; 08 điện thoại nhãn hiệu Samsung, lấy ở khu vực bàn trưng bày điện thoại cho khách hàng trải nghiệm 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo. Sau đó, H đi vào kho của cửa hàng, lấy 01 chiếc ba lô cá nhân của nhân viên siêu thị, cho tất cả số điện thoại đã trộm cắp vào trong ba lô rồi trèo lên mái nhà. H cất số điện thoại đã trộm cắp vào túi dù mang theo sẵn, để lại chiếc ba lô đã lấy trong kho, tẩu thoát theo lối đột nhập vào và mang toàn bộ số tài sản đã trộm cắp về số nhà B, ngõ C, phố P cất giấu, chờ tiêu thụ.

Đến khoảng 09 giờ ngày 31/10/2022, H đến cửa hàng kinh doanh điện thoại tại đội 8, thôn H, xã K, huyện Đ, Hà Nội bán chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng 128GB cho Nguyễn Tuấn A (sinh năm 1994; trú tại đội H, thôn H, xã K, huyện Đ, Hà Nội; là chủ cửa hàng) với giá 14.000.000 đồng. Cùng ngày, anh Tuấn A đã bán chiếc điện thoại trên cho một người không quen biết với giá 15.000.000 đồng. Hiện, Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại nêu trên.

Ngày 04/11/2022, H mang chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số I 355782154883775 bán cho chị Nguyễn Thị Thu H1 (sinh năm 1980; trú tại khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; là chủ cửa hàng mua bán điện thoại tại khu A phường G, V, tỉnh Phú Thọ) được 19.500.000 đồng. Khi mua bán, chị H1 chuyển tiền từ tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng C3 (V4), mang tên Nguyễn Thị Thu H1 đến tài khoản số [...] của H, mở tại Ngân hàng C3 (V4). Ngày 11/11/2022, khi được thông báo chiếc điện thoại trên là vật chứng của vụ án, chị H1 đã giao nộp chiếc điện thoại đã mua của H cho Cơ quan điều tra.

Ngày 07/11/2022, Nguyễn Huy H mang chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13, 128GB màu hồng, số I 352831579274020 bán cho anh Phùng Kim  (sinh năm 2021; trú tại thôn V, xã V, huyện B, Hà Nội; là chủ cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại K tại thôn V, xã V, huyện B, Hà Nội) được 14.000.000 đồng. Anh  chuyển toàn bộ số tiền trên từ tài khoản số 9330188868666 mang tên Phùng Kim Â, mở tại Ngân hàng Q2 (M3) đến tài khoản số [...] của H mở tại Ngân hàng C3 (V4). Đến ngày 08/11/2022, anh  bán chiếc điện thoại trên cho người có tên “Nam Apple” (địa chỉ tại số G, đường S, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh) được 14.560.000 đồng. Quá trình điều tra xác định: Tại địa chỉ tại số G, đường S, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh không có cửa hàng điện thoại “N”. Tại địa chỉ trên là quán cà phê “Say Coffe", quán đã kinh doanh tại địa chỉ trên được 03 năm. Hiện Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại nêu trên.

Ngày 08/11/2022, Nguyễn Huy H mang chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng, số I 355782153978881 bán cho chị Nguyễn Thị Lan P (sinh năm 1990; trú tại khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; là chủ cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại tại khu 22 xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ) được 24.000.000 đồng. Chị P chuyển 10.000.000 đồng từ tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng C3 (V4) mang tên Nguyễn Thị Lan P đến tài khoản số [...] của H, mở tại Ngân hàng C3 (V4), còn 14.000.000 đồng trả tiền mặt. Đến ngày 18/11/2022, chị P được thông báo chiếc điện thoại trên là vật chứng của vụ án, chị P đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại trên cho Cơ quan điều tra.

*Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 10 giờ 30 phút ngày 31/10/2022, thể hiện:

“... Hiện trường nơi xảy ra sự việc được xác định tại số nhà F, phố H, phường L, quận Đ, Hà Nội.

Khám nghiệm hiện trường thấy nhà có 01 cửa ra vào tại hướng Tây, xây 01 tầng, trên diện tích 200m². Cửa ra vào dạng cửa kính, 02 cánh gập, đóng mở ra ngoài. Cửa này, tại thời điểm khám nghiệm hiện trường không phát hiện dấu vết nghi vấn gì. Vào trong thấy, nhà cho đơn vị “Thế giới di động” thuê trưng bày và bày bán các mẫu điện thoại và L2. Cách cửa ra vào 240cm, cách mép phải hướng Bắc cửa ra vào 20cm, là vị trí kê 01 bàn gỗ kính trưng bày điện thoại Oppo, kích thước (120x80x90)cm, trên bàn để 02 điện thoại di động Oppo A77S và A76 bị đối tượng lấy mất. Sát tường hướng Tây, cách mép bên trái hướng Nam cửa ra vào 345cm, là vị trí phát hiện trần thạch cao bị thủng tạo khoảng hở (176x96)cm, cách nền 275cm, khu vực này phát hiện một số đoạn dây điện nối với hệ thống camera giám sát bị rơi. Tại khu vực trần này là hàng rào sắt hộp 20cm được hàn với nhau. Rào sắt hộp này bị cạy phá, tạo khoảng hở (101x41)cm. Sát tường hướng Bắc, cách tường hướng Tây 15cm, là vị trí kê 01 tủ kính 02 cánh gập đóng mở ra ngoài, có kích thước (101x35x220)cm, cửa tủ ở vị trí mở, bên trong tủ để điện thoại bị đối tượng lấy mất. Tại góc Đông Nam là phòng vệ sinh, có lối đi chung với phòng kho sát tường phía Nam. Phòng kho này có 01 cánh cửa ra vào tại hướng Đông, dạng cửa nhôm kính, cửa ở vị trí mở bình thường. Phòng có kích thước (286x390)cm. Bên trong phòng, cách tường hướng Tây 90 cm, cách tường hướng Bắc 140 cm là vị trí để 01 túi balo bị đối tượng lấy mất”.

*Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đã thu giữ vật chứng, tài sản, đồ vật liên quan gồm:

- Thu giữ của Nguyễn Huy H số vật chứng và tài sản đã trộm cắp tại cửa hàng T19 di động ở số nhà F, phố H, gồm: 01 vỏ hộp Iphone 14 Pro, số I 354542508464784; 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro màu tím, số Imei 1 là 354542508464784, số Imei 2 là 354542508088476; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S21 FE 5G màu tím, số Imei 354050730109474 kèm vỏ hộp màu trắng; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S22 Plus, màu vàng hồng, số Imei 356369481160744 kèm vỏ hộp màu đen; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S22 Plus, màu đen, số Imei 356369481169463 kèm vỏ hộp màu đen; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Flip4 màu xanh, số Imei 353185441647304 kèm vỏ hộp màu đen; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Fold4 màu đen, số Imei 351843261825408 kèm vỏ hộp màu đen; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Flip4 màu vàng, số Imei 358975992894817 kèm vỏ hộp màu đen; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Fold4 màu xanh, số Imei 351843261621104 kèm vỏ hộp màu đen; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Flip4 màu tím, số Imei 358975992001553 kèm vỏ hộp màu đen; 01 chiếc điện thoại Oppo A76 màu xanh, số Imei 1 là 869571050402411, số Imei 2 là 869571050402403 (đã qua sử dụng); 01 chiếc điện thoại Oppo A77S màu đen, số Imei 866996060075365 (đã qua sử dụng); 01 chiếc máy cắt điện cầm tay màu vàng cam; 01 lưỡi cắt hình tròn; 01 tuốc nơ vít 02 đầu, dài khoảng 25cm, chuôi màu vàng xanh (xác định là công cụ H sử dụng khi trộm cắp tài sản); 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen, số Imei 1 là 356543105482599, số Imei 2 là 356543105413214, số sim 0966699628 (xác định là tài sản của H); 01 Thẻ Ngân hàng C3 (V4), số thẻ 9704151500950416 mang tên Nguyễn Huy H và số tiền 1.950.000 đồng.

- Thu giữ của chị Thẩm Thị Như Q (sinh năm 1997; trú tại khu A, C, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ; là vợ bị can H): 01 chiếc túi vải màu xanh (xác định H sử dụng để đựng tài sản trộm cắp).

- Thu giữ của chị Nguyễn Thị Thu H1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax mầu xanh, số I (xác định là tài sản H trộm cắp tại số nhà F, phô H).

- Thu giữ của chị Nguyễn Thị Lan P: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, số I (xác định là tài sản H trộm cắp tại số nhà F, phô H).

*Tại bản Kết luận định giá tài sản số 291/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ, kết luận:

“...- 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng 128GB, máy chưa qua sử dụng, trị giá 24.990.000 đồng.

- 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng 128GB, máy chưa qua sử dụng, trị giá 24.990.000 đồng.

- 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max màu vàng 1TB, máy chưa qua sử dụng, trị giá 45.490.000 đồng.

- 01 điện thoại Iphone 13 Pro max màu xanh đen 128GB, máy chưa qua sử dụng, trị giá 33.990.000 đồng.

- 01 điện thoại Iphone 14 Pro màu tím 256GB, máy chưa qua sử dụng, trị giá 34.990.000 đồng.

- 01 điện thoại Samsung Galaxy S21 FE G990E (8G+256G) màu tím, máy chưa qua sử dụng, trị giá 18.990.000 đồng.

- 01 điện thoại Samsung Galaxy S22+ S906E (8G-256G) màu hồng, máy chưa qua sử dụng, trị giá 25.990.000 đồng.

- 01 điện thoại Samsung Galaxy S22+ S906E (8G-256G) màu đen, máy chưa qua sử dụng, trị giá 25.990.000 đông.

- 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Fold4 F936BE (12G+256G) màu xanh, máy chưa qua sử dụng, trị giá 40.990.000 đồng.

- 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Fold4 F936BE (12G+256G) màu đen, máy chưa qua sử dụng, trị giá 40.990.000 đồng.

- 01 điện thoại S3 Flip4 F721BE (8G+256G) màu vàng, máy chưa qua sử dụng, trị giá 25.990.000 đồng.

- 01 điện thoại S3 Flip4 F721BE (8G+256G) màu xanh, máy chưa qua sử dụng, trị giá 23.990.000 đồng.

- 01 điện thoại S3 Flip4 F721BE (8G+256G) màu tím, máy chưa qua sử dụng, trị giá 25.990.000 đồng.

- 01 điện thoại OPPO A76 màu xanh, máy đã qua sử dụng, máy chưa qua sử dụng, trị giá 5.570.000 đồng.

- 01 điện thoại OPPO A77s màu đen, máy đã qua sử dụng, máy chưa qua sử dụng, trị giá 6.290.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 405.230.000 đồng...”.

Ngày 27/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho chị Phạm Thị C1 (sinh năm 1994; trú tại thôn D, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; là quản lý cửa hàng Công ty cổ phần T16 - Chi nhánh H6, được Công ty ủy quyền theo giấy ủy quyền số 3110/2022/GUQ-TGDĐ ngày 31/10/2022) những tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro max 1TB, màu vàng, Imei 1 số 355782153978881, Imei2 số 355782153775584, vỏ hộp màu đen; 01 điện thoại Iphone 13 Pro max màu xanh đen 128GB, máy chưa qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 14 Pro màu tím 256GB, máy chưa qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung Galaxy S21 FE 5G màu tím, số Imei 354050730109474 kèm vỏ hộp màu trắng; 01 điện thoại Samsung Galaxy S22 Plus, màu vàng hồng, số Imei 356369481160744 kèm vỏ hộp màu đen; 01 điện thoại Samsung Galaxy S22 Plus, màu đen, số Imei 356369481169463 kèm vỏ hộp màu đen; 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Flip4 màu xanh, số Imei 353185441647304 kèm vỏ hộp màu đen; 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Fold4 màu đen, số Imei 351843261825408 kèm vỏ hộp màu đen; 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Flip4 màu vàng, số Imei 358975992894817 kèm vỏ hộp màu đen; 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Fold4 màu xanh, số Imei 351843261621104 kèm vỏ hộp màu đen; 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Flip4 màu tím, số Imei 358975992001553 kèm vỏ hộp màu đen 01 điện thoại Oppo A76 màu xanh, số Imei 1: 869571050402411; số Imei 2: 869571050402403 (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại Oppo A77S màu đen, số Imei 866996060075365 (đã qua sử dụng).

Đối với những người mua điện thoại, mua Laptop của Nguyễn Huy H, gồm: Anh Lê Trọng D1, anh Lâm Văn C, anh Đặng Đức D2, Nguyễn Duy D3, anh Nguyễn Tuấn A, chị Nguyễn Thị Thu H1, anh Phùng Kim Â, và chị Nguyễn Thị Lan P. Kết quả điều tra xác định, khi mua tài sản do H bán, những người này không biết là tài sản do H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Qua điều tra xác định, toàn bộ số tài sản mà H trộm cắp tại số nhà D N là tài sản cầm cố cho Công ty cổ phần K của anh Phạm Lê Quang T6 (sinh năm 1989; trú tại số D, phố P, phường H, quận H, Hà Nội), chị Nguyễn Thị Ngọc Á (sinh năm 1997; trú tại xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang), chị Phạm Ngọc A1 (sinh năm 1997; trú tại phường L, quận Đ, Hà Nội), chị Phạm Hồng V (sinh năm 1990; trú tại phường T, quận T, Hà Nội), chị Lê Mai T7 (sinh năm 1988; trú tại phường L, quận Đ, Hà Nội), bà Nguyễn Thị Phương L3 (sinh năm 1974; trú tại phường L, quận Đ, Hà Nội), chị Vũ Thị M2 (sinh năm 1991; trú tại thôn A, xã L, huyện H, Hà Nội), anh Trần Văn T8 (sinh năm 1990; trú tại phường Đ, quận H, Hà Nội), anh Nguyễn Anh V1 (sinh năm 1993; trú tại thôn B, xã L, huyện H, Hà Nội), anh Lê Xuân T9 (sinh năm 1990; trú tại phường L, quận Đ, Hà Nội), anh Phạm Đức N1 (sinh năm 1990; trú tại phường N, quận B, Hà Nội), anh Nguyễn Văn H4 (sinh năm 1998; trú tại phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ), anh Trần Hoàng T10 (sinh năm 1987; trú tại phường L, quận B, Hà Nội), anh Vũ Thế V2 (sinh năm 1986; trú tại phường N, quận C, Hà Nội), anh Lương Cao P1 (sinh năm 1989; trú tại phường D, quận C, Hà Nội), anh Nguyễn Công T11 (sinh năm 1989; trú tại phường N, quận T, Hà Nội), anh Lê Anh D6 (sinh năm 1985; trú tại phố Y, quận T, Hà Nội), anh Đông Minh S1 (sinh năm 1997; trú tại phường B, quận T, Hà Nội), anh Hoàng Văn T12 (sinh năm 1995; trú tại phường M, quận H, Hà Nội), anh Trần Quốc B1 (sinh năm 1999; trú tại phường M, quận N, Hà Nội), ông Phạm Thành T13 (sinh năm 1972; trú tại phường T, quận B, Hà Nội), anh Nguyễn Hải P2 (sinh năm 1992; trú tại phường T, quận B, Hà Nội), anh Nguyễn Nhất L4 (sinh năm 2002; trú tại phường T, quận C, Hà Nội), anh Quách Như C2 (sinh năm 1984; trú tại phường H, quận Đ, Hà Nội), anh Trần Ngọc D7 (sinh năm 2000; trú tại phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình), bà Nguyễn Thị Thu H5 (sinh năm 1979; trú tại phường Q, quận H, Hà Nội), anh Vũ Hồng T14 (sinh năm 1980; trú tại phường T, quận T, Hà Nội), chị Nguyễn Thị Bích V3 (sinh năm 1987; trú tại phố N, quận T, Hà Nội), chị Trần Thị Hồng N2 (sinh năm 2000; trú tại phường T, quận B, Hà Nội), bà Ngô Bích T15 (sinh năm 1974; trú tại tổ D, thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội). Hiện, Công ty cổ phần K đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường theo giá trị tài sản nên những người có tài sản trên không đề nghị bồi thường.

Đối với anh Nguyễn Văn L (sinh năm 1995; trú tại phường L, quận Đ, Hà Nội; là người làm cùng nghề sửa chữa điện lạnh với H4) được H4 nhờ chở H4 ngồi sau xe máy vác thang đến trước cửa số nhà I, phố Đ, phường N, quận B, Hà Nội nhưng không biết H4 trèo lên tầng 02 của nhà 940 rồi đi trên mái nhà của các nhà dân liền kề nhau, đi sang cửa hàng F ở số nhà D, phố N để đột nhập vào để trộm cắp tài sản, nên không đồng phạm với H4. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh L.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển kiểm soát 38N6-5614, là tài sản của anh Nguyễn Văn N3 (sinh năm 1987; trú tại số H, ngách A, ngõ E, phố K, phường N, quận B, Hà Nội; làm nghề quảng cáo và có xưởng quảng cáo, tại số nhà B, ngõ C, phố P, phường N, quận B, Hà Nội). Chiếc xe máy trên, anh N3 mua để nhân viên làm phương tiện đi làm việc, anh N3 để xe máy tại xưởng. Anh N3 không biết H4 sử dụng chiếc xe máy trên đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Trách nhiệm dân sự:

- Anh Nguyễn Anh Đ yêu cầu bị cáo Nguyễn Huy H phải bồi thường số tiền là 458.711.000 đồng, là tổng giá trị tài sản bị mất chưa thu hồi được.

- Anh Đỗ Đức D (sinh năm 1991; trú tại phòng G, tòa B, chung cư B, phố K, phường K, quận T, Hà Nội; là quản lý cửa hàng Công ty cổ phần T16 - Chi nhánh H6; được Công ty ủy quyền theo giấy ủy quyền số 1807/2023TGD/UQ ngày 18/7/2023) yêu cầu bị can Nguyễn Huy H bồi thường số tiền 49.980.000 đồng (là giá trị của 02 chiếc điện thoại không thu hồi được; đều là điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng 128GB, máy chưa qua sử dụng, mỗi chiếc trị giá 24.990.000 đồng). Ngoài ra, anh D còn yêu cầu bồi thường số tiền 237.670.000 đồng do thiệt hại của việc bán bị lỗ so với giá trị trước khi bị mất của 13 chiếc điện thoại khi nhận lại không còn nguyên vẹn, xây sát, thiếu phụ kiện.

- Chị Nguyễn Thị Thu H1 yêu cầu Nguyễn Huy H hoàn trả số tiền 19.500.000 triệu đồng.

- Chị Nguyễn Thị Lan P yêu cầu Nguyễn Huy H hoàn trả lại số tiền 24.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 643/CT-VKSHN-P2 ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy Hùng (có lý lịch nêu trên) về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 173 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng nêu và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 4, Điều 173; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 13 đến 14 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại và người liên quan theo như yêu cầu của họ.

Về vật chứng: trả bị cáo thẻ ngân hàng; tạm giữ tiền để bảo đảm thi hành án; các vật chứng khác không còn giá trị thì tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo: không có ý kiến về tội danh, đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo.

- Các bị hại đề nghị quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật và đề nghị tuyên buộc bị cáo bồi thường cụ thể:

+ Công ty cổ phần K: 458.711.000 đồng, là tổng giá trị tài sản bị mất chưa thu hồi được.

+ Công ty cổ phần T16: số tiền 49.980.000 đồng (là giá trị của 02 chiếc điện thoại không thu hồi được; đều là điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng 128GB, máy chưa qua sử dụng, mỗi chiếc trị giá 24.990.000 đồng). Ngoài ra, anh D còn yêu cầu bồi thường số tiền 237.670.000 đồng do thiệt hại của việc bán bị lỗ so với giá trị trước khi bị mất của 13 chiếc điện thoại khi nhận lại không còn nguyên vẹn, xây sát, thiếu phụ kiện.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Mạnh T và bà Đào Thị N xuất trình tài liệu đã nộp 150 triệu đồng để khắc phục hậu quả cho bị cáo, không đề nghị bị cáo hoàn trả. Đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận :

Trong các ngày 04/9/2022 và 30/10/2022, H đã gây ra 02 vụ trộm cắp để chiếm đoạt được tổng số tài sản trị giá 865.691.0000 đồng, gồm:

Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 04/9/2022, H đột nhập vào cửa hàng F tại số nhà D, phố N, phường N, quận B, Hà Nội lấy được tổng số tài sản trị giá 460.461.000 đồng, gồm 15 chiếc điện thoại các loại (S3, O, Iphone); 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell; 02 chiếc laptop nhãn hiệu Macbook; 07 dây chuyền vàng; 20 nhẫn vàng (trong đó có 01 chiếc nhẫn vàng 14k, trọng lượng 0,7 chỉ, mặt có 01 viên đá trắng nhỏ ở giữa); 03 kiềng vàng, 02 lắc vàng. H đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc nhẫn vàng 14k, trọng lượng 0,7 chỉ, có 01 viên đá trắng nhỏ ở giữa (trị giá 1.750.000 đồng).

Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 30/10/2022, H đột nhập vào siêu thị T17 di động ở số nhà F, phố H, phường L, quận Đ, Hà Nội chiếm đoạt số tài sản trị giá 405.230.000 đồng, gồm 15 chiếc điện thoại các loại (Iphone, S, O).

Ngày 09/11/2022, Nguyễn Huy H đến Công an quận B đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như như nêu trên.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất của vụ án và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự trị an xã hội với số tài sản trị giá rất lớn... Do vậy, vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo thực hiện là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • - Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã đầu thú; một phần tài sản trộm cắp về cơ bản đã được thu hồi; gia đình bị cáo đã nộp 150 triệu khắc phục hậu quả cho bị cáo ... nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất của vụ án và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt tù giam bị cáo một thời gian mới đảm bảo tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về dân sự:

- Anh Nguyễn Anh Đ yêu cầu Nguyễn Huy H phải bồi thường số tiền là 458.711.000 đồng, là tổng giá trị tài sản bị mất chưa thu hồi được.

- Anh Đỗ Đức D (sinh năm 1991; trú tại phòng G, tòa B, chung cư B, phố K, phường K, quận T, Hà Nội; là quản lý cửa hàng Công ty cổ phần T16 - Chi nhánh H6; được Công ty ủy quyền theo giấy ủy quyền số 1807/2023TGD/UQ ngày 18/7/2023) yêu cầu Nguyễn Huy H bồi thường số tiền 49.980.000 đồng (là giá trị của 02 chiếc điện thoại không thu hồi được; đều là điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng 128GB, máy chưa qua sử dụng, mỗi chiếc trị giá 24.990.000 đồng). Ngoài ra, anh D còn yêu cầu bồi thường số tiền 237.670.000 đồng do thiệt hại của việc bán bị lỗ so với giá trị trước khi bị mất của 13 chiếc điện thoại khi nhận lại không còn nguyên vẹn, xây sát, thiếu phụ kiện.

- Chị Nguyễn Thị Thu H1 yêu cầu Nguyễn Huy H hoàn trả số tiền 19.500.000 đồng.

- Chị Nguyễn Thị Lan P yêu cầu Nguyễn Huy H hoàn trả lại số tiền 24.000.000 đồng.

Các yêu cầu là đúng và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận

[7] Về xử lý vật chứng:

01 máy cắt điện cầm tay, màu vàng cam; 01 lưỡi cắt hình tròn; 01 tuốc lơ vít 02 đầu, dài khoảng 25cm, chuôi màu vàng xanh; 01 chiếc túi vải màu xanh không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy;

01 thẻ Ngân hàng V6 mang tên Nguyễn Huy H là tài sản cá nhân nên trả bị cáo

S2 tiền 1.950.000 đồng thu giữ của bị cáo và 150 triệu đồng ông Nguyễn Mạnh T đã nộp để khắc phục hậu quả của tội phạm cho bị cáo cần tạm giữ bảo đảm thi hành án.

[8] Các nội dung khác:

Đối với những người mua điện thoại, mua Laptop của Nguyễn Huy H, gồm: Anh Lê Trọng D1, anh Lâm Văn C, anh Đặng Đức D2, Nguyễn Duy D3, anh Nguyễn Tuấn A, chị Nguyễn Thị Thu H1, anh Phùng Kim Â, và chị Nguyễn Thị Lan P. Kết quả điều tra xác định, khi mua tài sản do H bán, những người này không biết là tài sản do H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Qua điều tra xác định, toàn bộ số tài sản mà H trộm cắp tại số nhà D N là tài sản cầm cố cho Công ty cổ phần K. Hiện, Công ty cổ phần K đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường theo giá trị tài sản nên những người có tài sản cầm cố và họ không đề nghị bồi thường.

Đối với anh Nguyễn Văn L (sinh năm 1995; trú tại phường L, quận Đ, Hà Nội; là người làm cùng nghề sửa chữa điện lạnh với H) được H nhờ chở H ngồi sau xe máy vác thang đến trước cửa số nhà I, phố Đ, phường N, quận B, Hà Nội nhưng không biết H trèo lên tầng 02 của nhà 940 rồi đi trên mái nhà của các nhà dân liền kề nhau, đi sang cửa hàng F ở số nhà D, phố N để đột nhập vào để trộm cắp tài sản, nên không đồng phạm với H. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh L.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển kiểm soát 38N6-5614, là tài sản của anh Nguyễn Văn N3 (sinh năm 1987; trú tại số H, ngách A, ngõ E, phố K, phường N, quận B, Hà Nội; làm nghề quảng cáo và có xưởng quảng cáo, tại số nhà B, ngõ C, phố P, phường N, quận B, Hà Nội). Chiếc xe máy trên, anh N3 mua để nhân viên làm phương tiện đi làm việc, anh N3 để xe máy tại xưởng. Anh N3 không biết H sử dụng chiếc xe máy trên đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Những nội dung đã được giải quyết phù hợp quy định của pháp luật nên Tòa không xem xét.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản điểm a khoản 4, Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 09/11/2022.

2. Về dân sự: Áp dụng Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự:

+ Buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải bồi thường cho Công ty cổ phần K số tiền 458.711.000 đồng.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải bồi thường cho Công ty cổ phần T16 số tiền 287.650.000 đồng.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải trả Chị Nguyễn Thị Thu H1 số tiền 19.500.000 đồng.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải trả Chị Nguyễn Thị Lan P số tiền 24.000.000 đồng.

Ghi nhận gia đình bị cáo đã nộp 150.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự,

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 máy cắt điện cầm tay, màu vàng cam; 01 lưỡi cắt hình tròn; 01 tuốc lơ vít 02 đầu, dài khoảng 25cm, chuôi màu vàng xanh; 01 chiếc túi vải màu xanh không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy;

+ Trả bị cáo Nguyễn Huy H: 01 thẻ Ngân hàng V6 mang tên Nguyễn Huy H áo

+ Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.950.000 đồng thu giữ của bị cáo ( Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 05/10/2023 của PC01 vào tài khoản của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội) và 150.000.000 đồng ông Nguyễn Mạnh T đã nộp khắc phục hậu quả của tội phạm cho bị cáo ( biên lai số 0065096 ngày 02/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội) để bảo đảm thi hành án.

( Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/10/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 01 Điều 21, điểm a khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 35.594.440 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về phần quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về phần quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự năm 2015; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Công an TP Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - THADS TP Hà Nội;
  • - Trại Tạm giam Công an TP Hà Nội;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú ( thay thông báo);
  • - Lưu hồ sơ + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 239/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận : Trong các ngày 04/9/2022 và 30/10/2022, H đã gây ra 02 vụ trộm cắp để chiếm đoạt được tổng số tài sản trị giá 865.691.0000 đồng, gồm: Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 04/9/2022, H đột nhập vào cửa hàng F tại số nhà D, phố N, phường N, quận B, Hà Nội lấy được tổng số tài sản trị giá 460.461.000 đồng, gồm 15 chiếc điện thoại các loại (S3, O, Iphone); 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell; 02 chiếc laptop nhãn hiệu Macbook; 07 dây chuyền vàng; 20 nhẫn vàng (trong đó có 01 chiếc nhẫn vàng 14k, trọng lượng 0,7 chỉ, mặt có 01 viên đá trắng nhỏ ở giữa); 03 kiềng vàng, 02 lắc vàng. H đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc nhẫn vàng 14k, trọng lượng 0,7 chỉ, có 01 viên đá trắng nhỏ ở giữa (trị giá 1.750.000 đồng). Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 30/10/2022, H đột nhập vào siêu thị T17 di động ở số nhà F, phố H, phường L, quận Đ, Hà Nội chiếm đoạt số tài sản trị giá 405.230.000 đồng, gồm 15 chiếc điện thoại các loại (Iphone, S, O). Ngày 09/11/2022, Nguyễn Huy H đến Công an quận B đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như như nêu trên. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger