Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 239/2025/HS-ST

Ngày: 18/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lê Văn Luận
  • 2. Ông Phạm Văn Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Lệ Mỹ – Kiểm sát viên

Ngày 18/6/2025, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 234/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại hai điểm cầu. Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa; địa chỉ: Đường H, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Điểm cầu thành phần: Trụ sở Công an tỉnh T; Địa chỉ: Đại lộ N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T - Sinh năm 1995 tại Thanh Hoá; nơi cư trú: số nhà A H, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; con ông: Nguyễn Đức T1 (chết) và bà: Nguyễn Thị T2; vợ: chưa; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 18/6/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 31/12/2024 chuyển tạm giam; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, có mặt.

Những người tham gia tố tụng hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

  • - Ông Nguyễn Thế Q – Thư ký Tòa án.
  • - Ông Nguyễn Văn Q1 – Kiểm sát viên
  • - Cán bộ hỗ trợ tư pháp thuộc Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch rà soát người nghiện ma tuý, người nghi nghiện ma tuý, người sử dụng ma tuý, người nghi sử dụng ma tuý của Công an thành phố T, hồi 11 giờ 05 phút ngày 22/12/2024, Tổ công tác Công an phường Đ đến nhà Nguyễn Đức T, sinh năm 1995, thường trú tại số nhà A H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (là đối tượng nghi sử dụng trái phép chất ma túy) để mời Nguyễn Đức T đến trụ sở Công an phường Đ làm việc. Khi tổ công tác vào nhà thì T đang có mặt tại nhà. Tại chỗ, T khai nhận trước đó có sử dụng ma túy loại hồng phiến bằng hình thức hút. Đồng thời, T tự giác lấy từ giá để giày đặt trong phòng ngủ 01 gói giấy bạc, bên trong chứa 12 viên nén hình tròn màu đỏ và khai nhận là ma túy loại hồng phiến của T cất giấu để bán. Xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Đức T, dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra T đầu thú khai nhận: T là người nghiện ma túy và không có việc làm ổn định. Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy của bản thân và có tiền tiêu xài, Nguyễn Đức T nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Thông qua người nghiện ngoài xã hội, T biết ở khu vực bãi đất trống thuộc công trình Công viên nước thành phố T, phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa có người bán ma túy vào buổi trưa và buổi tối. Khoảng 20 giờ ngày 08/12/2024, T một mình đi bộ đến địa điểm trên tìm mua ma túy thì gặp một người nam giới xưng tên T4 (không biết rõ nhân thân, lai lịch) tiếp cận nói chuyện. Khi biết T có nhu cầu mua ma túy, T4 đồng ý bán cho T 01 (một) gói giấy bạc chứa 02 (hai) viên ma túy loại hồng phiến (dạng viên nén hình tròn màu đỏ) với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Khi T đi bộ về đến trước cửa cổng nhà T thì thấy T4 đi phía sau nên T chỉ nhà để T4 biết. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Trần Thanh T3, sinh năm 1997, thường trú tại số nhà G Đ, phường Đ, thành phố T gọi điện từ tài khoản messenger “Trần Thanh T3” đến tài khoản messenger “Đức Tâm” của T hỏi mua 02 (hai) viên ma túy hồng phiến. T đã đồng ý bán lại cho T3 02 (hai) viên ma túy hồng phiến mua của T4 trước đó với giá 240.000đ (hai trăm bốn mươi ngàn đồng) và hẹn T3 đến nhà T để giao dịch. Tiếp đến, T mang gói giấy bạc chứa 02 (hai) viên ma túy hồng phiến đặt tại gốc cây cột điện bên trái mặt trước nhà T. Khi T3 đến trước cửa cổng nhà T thì gặp và đưa cho T số tiền 240.000đ (gồm 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000đ và 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000đ). Nhận được tiền, T chỉ vị trí đặt ma túy hồng phiến trước đó để T3 tự đến lấy mang đi. Sau đó T dùng hết số tiền bán ma túy cho T3 để mua thẻ nạp game. Trưa ngày 21 tháng 12 năm 2024, T một mình đi đến khu vực bãi đất trống thuộc Công trình Công viên nước thành phố T, phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa tìm mua ma túy thì gặp lại T4. Tại đây, T hỏi mua 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng ma túy hồng phiến thì T4 đồng ý, yêu cầu T đưa tiền và hẹn sẽ mang ma túy qua nhà T. T đồng ý, đưa đủ 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng) cho T4 rồi đi bộ về nhà. Khoảng 01 giờ sau, khi T đang trong nhà thì T4 đeo khẩu trang, đi xe môtô không gắn biển số đến trước cửa nhà T. Thấy T đi bộ ra, T4 ném vào sân 01 (một) gói giấy bạc và nói “đây nhé” rồi nhanh chóng rời đi. T nhặt gói giấy bạc, mang vào nhà kiểm tra bên trong có 22 (hai mươi hai) viên ma túy hồng phiến (dạng viên nén màu đỏ hình tròn) và lấy 10 (mười) viên ma túy một mình sử dụng hết tại bàn uống nước trong phòng khách. Số ma túy còn lại (12 viên), T gói lại và cất giấu ở giá để giày dép đặt tại phòng ngủ của T để khi nào có người hỏi mua sẽ bán với giá 130.000đ/01 viên. Đến khoảng 11 giờ ngày 22/12/2024, T đang ở nhà thì có Công an phường Đ, thành phố T đến mời T lên trụ sở để test chất ma túy trong cơ thể. Nguyễn Đức T tự giác lấy 01 (một) gói giấy bạc chứa 12 (mười hai) viên ma túy hồng phiến đang cất giấu giao nộp và khai nhận mục đích cất giấu ma túy để bán kiếm lời.

Ngày 23/12/2025, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức T tại số nhà A H, phường Đ, thành phố T không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Đức T, Cơ quan điều tra triệu tập làm việc với Trần Thanh T3. T3 khai nhận mua 02 (hai) viên ma túy của Nguyễn Đức T vào tối ngày 08/12/2024 với giá 240.000đ (hai trăm bốn mươi nghìn đồng) và đã một mình sử dụng hết số ma túy đó vào ngày 19/12/2024 tại nhà T3. Test nhanh nước nước tiểu của Trần Thanh T3, dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.

Kết luận giám định số 177/KL-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 12 (mười hai) viên nén màu đỏ hình tròn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 1,161g (một phẩy một sáu một gam) loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 166/CT-VKSTPTH ngày 22/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS;

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Về hình phạt VKS đề nghị xử phạt Nguyễn Đức T mức án từ 36 - 42 tháng tù. Ngoài ra VKS còn đề nghị xử lý vật chứng, truy thu khoản tiền thu lời bất chính từ bị cáo số tiền 240.000 đồng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng bị cáo: Bị cáo không nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy của bản thân và có tiền tiêu xài, khoảng 20 giờ ngày 08/12/2024 Nguyễn Đức T một mình đến khu vực bãi đất trống thuộc công trình Công viên nước thành phố T, thuộc phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa để tìm mua ma tuý. Tại đây T gặp một người nam giới xưng tên T4 (không biết rõ nhân thân, lai lịch) mua của người này 01 (một) gói giấy bạc chứa 02 (hai) viên ma túy loại hồng phiến (dạng viên nén hình tròn màu đỏ) với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Đức T bán cho Trần Thanh T3, sinh năm 1997, thường trú tại số nhà G Đ, phường Đ, thành phố T 02 (hai) viên ma túy hồng phiến mua của T4 trước đó với giá 240.000đ (hai trăm bốn mươi ngàn đồng). Ngoài ra trưa ngày 21 tháng 12 năm 2024, T một mình đi đến khu vực bãi đất trống thuộc công trình Công viên nước thành phố T, phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa tìm mua của T4 01 gói ma tuý với giá 2.600.000 đồng, bên trong gói ma tuý có 22 (hai mươi hai) viên ma túy hồng phiến (dạng viên nén màu đỏ hình tròn), T lấy 10 (mười) viên một mình sử dụng hết tại bàn uống nước trong phòng khách. Số ma túy còn lại 12 viên có tổng khối lượng 1,161g (một phẩy một sáu một gam) loại Methamphetamine cất giấu ở giá để giày dép đặt tại phòng ngủ mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa bán được thì bị thu giữ.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của Nguyễn Đức T có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 BLHS như truy tố của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tính chất nghiêm trọng của tội phạm ma túy, cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất vụ lợi, nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để nộp ngân sách Nhà nước.

[5] Về những tình tiết có liên quan:

Đối với người đàn ông tên T4, là người bán ma túy cho T các ngày 08, 21/12/2024. Theo T khai nhận không biết rõ nhân thân, lai lịch của T4, Cơ quan điều tra đã xác minh, rà soát hệ thống camera an ninh tại khu vực Bãi đất trống thuộc Công viên nước thành phố T, khu vực hai đầu đường vào ngõ E H, phường Đ và khu vực trước nhà Nguyễn Đức T nhưng không thu thập được hình ảnh phục vụ điều tra. Tiến hành trích xuất dữ liệu lưu trữ trong điện thoại tạm giữ của T không tìm thấy thông tin liên lạc, giao dịch mua bán ma túy giữa T và T4. Ngoài ra, khi truy vấn lịch sử giao dịch đối với các tài khoản ngân hàng trực tuyến của Nguyễn Đức T phát hiện: Có các giao dịch chuyển số tiền 1.200.000đ lúc 11 giờ 57 phút và 960.000đ lúc 14 giờ 23 phút ngày 21/12/2024 (từ ngân hàng M số 0854098668); giao dịch chuyển chuyển số tiền 480.000đ lúc 11 giờ 58 phút ngày 21/12/2024 (từ ngân hàng T6) đều tới tài khoản ngân hàng M số 9704229259562226 mang tên Bùi Đình T4, sinh năm 1994, trú tại số nhà C H, phường Đ, thành phố T. Theo T khai nhận các giao dịch chuyển tiền đó là giao dịch chuyển tiền mua nem chua của Bùi Đình T4 không liên quan gì đến việc mua bán ma túy. Hiện chưa làm việc được với Bùi Đình T4 do T4 vắng mặt tại địa phương. Kết quả nhận dạng qua ảnh của Bùi Đình T4, Nguyễn Đức T khẳng định Bùi Đình T4 không phải là người bán ma túy cho T.

Đối với hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” của Trần Thanh T3 ngày 19/12/2024, Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Đức T ngày 21/12/2024, Cơ quan điều tra chuyển phòng Cảnh sát ĐTTP về ma túy - Công an tỉnh T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

[6] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 màu trắng, số IMEI: 351166893822241 thu giữ của bị cáo là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Khi bán ma tuý cho T3 bị cáo được hưởng lợi 240.000 đồng, đây là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên căn cứ Điều 47 BLHS để truy thu, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Đức T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Đức T 5.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng K, kèm chữ ký, chữ viết của Trần Thị Thúy H, Lê Minh T5, Trịnh Thị Thu H1.
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12, màu trắng, Imel: 351166893822241, điện thoại gắn kèm sim, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.

Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 125/2025/THA ngày 27/5/2025 giữa Công an tỉnh T với Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Truy thu để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với Nguyễn Đức T số tiền 240.000 đồng.

Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSNDTPTH;
  • - Văn phòng điều tra
  • Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - PV 06 Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TPTH;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 239/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger