Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 239/2025/HS-PT

Ngày: 12 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Trực

Các Thẩm phán:

Ông Trương Công Huấn;

Ông Nguyễn Văn Hậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 144/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 133/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị H, giới tính: nữ; sinh năm: 1984 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:: Thôn 4, xã N, huyện T, tỉnh Q; nơi ở: Căn hộ số 4.8, Chung cư lô A, khu phố 3, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: kế toán; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Thanh C và bà Đoàn Thị P; chồng: Đào Trung N và có 02 người con (lớn sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến ngày 17/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Văn Sự và ông Lê Văn Hoan - Luật sư, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh - có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối tháng 12/2018, Nguyễn Thị H nhờ bà Nguyễn Thái Hiền (là đồng nghiệp của H) đứng tên mở sổ tiết kiệm tại Ngân hàng Sacombank - Chi nhánh Quận 3, khi thực hiện các thủ tục này thì H có giữ giấy tờ của bà Hiền. Sau đó do cần tiền để trả nợ, H nảy sinh ý định sử dụng danh tính của bà Hiền mở thẻ tín dụng để rút tiền, cụ thể:

Vụ thứ 1: Ngày 15/01/2019, Nguyễn Thị H đến Công ty Tài chính Cổ phần Tín Việt (VietCredit), địa chỉ tại siêu thị Co.opmart Bình Triệu, Quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức, gặp ông Đỗ Hùng Việt là nhân viên Công ty Tín Việt (VietCredit), để làm hợp đồng cấp thẻ tín dụng. H cung cấp bản chính chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thái Hiền cho ông Việt, ông Việt kiểm tra đối chiếu giấy tờ chứng minh nhân dân nhưng không phát hiện ra, lầm tưởng H là Nguyễn Thái Hiền và làm thủ tục cấp thẻ tín dụng mang tên Nguyễn Thái Hiền, hạn mức là 100.000.000 đồng cho H. Sau khi được Công ty Tín Việt (VietCredit) thẩm định và phê duyệt hồ sơ xong, thì ông Việt giao thẻ tín dụng mang tên Nguyễn Thái Hiền, số tài khoản 209192896, qua đường bưu điện cho H theo địa chỉ công ty của H, tại số 9 Hoa Sữa, Phường 7, quận Phú Nhuận. Từ ngày 23/01/2019 đến ngày 01/3/2019, H đã rút 100.000.000 đồng trong tài khoản thẻ tín dụng, sau đó H nạp vào lại tài khoản 20.000.000 đồng để duy trì và tiếp tục rút 11.300.000 đồng. Tổng cộng số tiền H được là 91.300.000 đồng, sau khi rút được tiền, H không thực hiện việc trả nợ cho Công ty Tín Việt, chiếm đoạt số tiền trên.

Vụ thứ 2: Cùng ngày 15/01/2019, H tiếp tục sử dụng giấy tờ của bà Nguyễn Thái Hiền để mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chatered (Việt Nam), tại địa chỉ 1060 Nguyễn Văn Linh, phường Tân Phong, Quận 7. H gặp bà Huỳnh Đặng Ngọc Trân, là nhân viên của ngân hàng tại khu vực đường Phan Xích Long, quận Phú Nhận. H cung cấp bản chính giấy chứng minh nhân dân và giấy tạm trú mang tên Nguyễn Thái Hiền cho bà Trân, bà Trân đối chiếu hình ảnh trên chứng minh nhân dân với người thực tế làm thẻ nhưng không phát hiện ra việc H giả danh nên làm thủ tục cấp thẻ tín dụng mang tên Nguyễn Thái Hiền cho H, hạn mức 199.000.000 đồng. Sau khi Ngân hàng Standard Chatered (Việt Nam) thẩm định và phê duyệt hồ sơ xong thì giao thẻ tín dụng mang tên Nguyễn Thái Hiền, có số tài khoản là 505090019 cho H ngày 24/01/2019. Đến ngày 26/01/2019, H rút 216.000.000 đồng (thẻ được rút không quá hạn mức quy định 10%); ngày 15/3/2019 và ngày 16/3/2019, H nạp lại vào tài khoản số tiền 218.000.000 đồng và rút ra 217.499.776 đồng. Đến ngày 16/4/2019, H nạp 217.000.000 đồng và rút 217.000.000 đồng. Sau đó, H không thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng và chiếm đoạt số tiền 215.499.776 đồng.

Tháng 9/2019, bà Nguyễn Thái Hiền phát hiện bị nợ xấu nên đến Công ty Tín Việt (VietCredit) khiếu nại thì hành vi nêu trên của H bị phát hiện.

Kết luận giám định số 1902/KLGĐ-TT ngày 08/10/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

  • - Chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A: Đơn đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ vay số hiệu hồ sơ APPL00033482, họ tên Nguyễn Thái Hiền, đề ngày 15/01/2019 (trừ chữ viết ở các mục “Số hiệu hồ sơ”, “Ngày nộp hồ sơ”, “Phần dành riêng cho công ty tài chính cổ phần Tín Việt) so với chữ viết của Nguyễn Thị H trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh ký hiệu M1: Tờ khai chứng minh nhân dân số [...], họ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1984, đề ngày 20/02/2017, là do cùng một người viết ra.
  • - Chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A: Đơn đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ vay số hiệu hồ sơ APPL00033482, họ tên Nguyễn Thái Hiền, đề ngày 15/01/2019 so với chữ viết của Nguyễn Thái Hiền trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh ký hiệu M2: Bản tự khai của Nguyễn Thái Hiền, đề ngày 27/6/2020, không phải do cùng một người viết ra.
  • - Chữ viết trên tài liệu cần giám đinh ký hiệu A: Đơn đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ vay số hiệu hồ sơ APPL00033482, họ tên Nguyễn Thái Hiền, đề ngày 15/01/2019, là chữ viết trực tiếp bằng bút mực xanh.

Vật chứng: 02 thẻ tín dụng mang tên Nguyễn Thái Hiền, H đã vứt bỏ, không thu hồi được.

Trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị H đã bồi thường cho Công ty Tín Việt (VietCredit) số tiền 96.000.000 đồng và bồi thường cho Ngân hàng Standard Chatered (Việt Nam) số tiền 272.624.045 đồng. Công ty Tín Việt (VietCredit) và Ngân hàng Standard Chatered (Việt Nam) đã làm đơn bãi nại cho H.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 133/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định: “...

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 26/7/2024 đến ngày 17/12/2024...”

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 07/3/2025 bị cáo Nguyễn Thị H làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đồng thời bổ sung tài liệu về tình tiết giảm nhẹ mới là trong thời gian được tại ngoại bị cáo đã lập công chuộc tội về việc tố giác tội phạm được Công an phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xác nhận. Trong phần tranh luận bị cáo đồng ý với lời bào chữa của Luật sư, không có ý kiến gì thêm. Nói lời sau cùng bị cáo xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Nguyễn Thị H tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo H có bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới là trong thời gian được tại ngoại bị cáo đã lập công chuộc tội về việc tố giác tội phạm, vụ việc đã được khởi tố vụ án, khởi tố bị can để xử lý theo quy định của pháp luật. Công an phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã xác nhận đơn của bị cáo. Do vậy đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm và xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H trình bày: Bị cáo H chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ và được hưởng án treo nên đề nghị xem xét cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ mới là đã tố giác tội phạm được Công an địa phương tại Quảng Ngãi xác nhận là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đó là khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại bãi nại, lúc phạm tội bị cáo đang mang thai, có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, hiện có hoàn cảnh khó khăn có chồng đang bệnh nặng và 02 con nhỏ cần chăm sóc, thuộc gia đình có công cách mạng có cha mẹ là thương binh, có nơi cư trú rõ ràng, việc không cách ly bị cáo khỏi xã hội không ảnh hưởng. Vì vậy, đề nghị giảm nhẹ và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong ngày 15/01/2019 đến ngày 16/4/2019 Nguyễn Thị H sử dụng giấy tờ mang tên bà Nguyễn Thái Hiền (là đồng nghiệp của H) để mở thẻ tín dụng tại Công ty Tài chính Cổ phần Tín Việt (VietCredit), địa chỉ tại siêu thị Co.opmart Bình Triệu, Quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức và Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chatered (Việt Nam), tại địa chỉ 1060 Nguyễn Văn Linh, phường Tân Phong, Quận 7 - khu vực đường Phan Xích Long, quận Phú Nhận để chiếm đoạt của hai pháp nhân trên, tổng số tiền 306.799.776 đồng ( Công ty Tín Việt (VietCredit) số tiền 91.300.000 đồng và Ngân hàng Standard Chatered (Việt Nam) số tiền 215.499.776 đồng).

[2] Với hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Nguyễn Thị H nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo làm đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[4]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H xin giảm nhẹ hình phạt tù và được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, Toà cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ đó là: có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả; phạm tội khi đang mang thai; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; được các bị hại bãi nại; phạm tội do hoàn cảnh gia đình nợ nần; hoàn cảnh hiện tại khó khăn, chồng đang bị bệnh, có 02 con còn nhỏ; gia đình có công với cách mạng, có cha mẹ đều tham gia cách mạng và là thương binh, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử mức án dưới khung hình phạt quy định là có cơ sở. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ mới là trong thời gian được tại ngoại bị cáo đã lập công chuộc tội có xác nhận của Công an nơi xảy ra tội phạm là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 cần được áp dụng cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tại phiên toà phúc thẩm có bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới nên xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất có thể theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu xin được hưởng án treo, xét thấy bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm là có cơ sở. Do vậy, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, n, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 133/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H; phạt Nguyễn Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến ngày 17/12/2024.

Bị cáo Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận :

  • - TANDTC; (1)
  • - TAND Cấp cao tại TP .HCM; (1)
  • - VKSNDTC TP.HCM; (3)
  • - VKSND TP.Thủ Đức; (1)
  • - P. PC27 – CATP; (2)
  • - Bị cáo; đương sự (3)
  • - THA TP.Thủ Đức; (1)
  • - TAND TP.Thủ Đức; (1)
  • - Công an TP.Thủ Đức; (1)
  • - UBND nơi BC cư trú; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Lưu,Tòa hình sự, hồ sơ (19).(3)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Trực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2025/HS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 239/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, n, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 133/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H; phạt Nguyễn Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến ngày 17/12/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger