|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 239/2025/DS-PT Ngày: 14 - 4 - 2025 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Bà Hoàng Thị Thúy Lành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 và 14 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 17/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 325/2024/DS-ST ngày 09 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1970
- Ông Tuy Lê T, sinh năm 1969
Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị L và ông Tuy Lê T là ông Đặng Hữu T1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/3/2023).
2. Bị đơn:
- Ông Văng Công K, sinh năm 1948. Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Ông Văng Công L1, sinh năm 1988 (Theo văn bản ủy quyền ngày 10/11/2023).
- Ông Văng Công L1, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1984
- Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 2007
- Ông Văng Hữu D, sinh năm 2012
- Ông Văng Trung T2, sinh năm 2014
- Ông Văng Trung T3, sinh năm 2019
- Bà Văng Thị Tuyết L2, sinh năm 1981.
- Bà Văng Thị Loan A, sinh năm 1983
- Bà Văng Thị H, sinh năm 1985
- Ủy ban nhân dân xã H. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Nguyễn Văn X
- Ông Phạm Quang T4, sinh năm 1989. Địa chỉ: G B, phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Huỳnh Thị T5, sinh năm 1979. Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
- Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1984. Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
- Bà Huỳnh Thị T5, sinh năm 1979
- Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1977
- Ông Huỳnh Văn R, sinh năm 1973
- Bà Huỳnh Thị T6, sinh năm 1967
- Ông Huỳnh Văn B1, sinh năm 1970
- Ông Phạm Xuân H1, sinh năm 1985
- Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L. Địa chỉ trụ sở: 137 Quốc lộ 1A, Phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An
- Ủy ban nhân dân huyện Đ do ông do ông Lê Thành P, Chủ tịch. Trụ sở: Ô 7, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người diện của ông C: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1984.
Người đại diện của D, T2, T3: Ông Văng Công L1, sinh năm 1988 & bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1984.
Cùng địa chỉ: ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: tổ G, ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Cùng địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
Địa chỉ: 5 H, phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị Lệ .
(ông T1, bà L3, ông L1 có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 10 năm 2023 và các lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị L và ông Tuy Lê T trình bày như sau:
Bà Huỳnh Thị L và ông Tuy Lê T là quan hệ vợ chồng. Bà L và bà Đ là mẹ con ruột nhưng theo giấy khai sinh và lý lịch hộ tịch của bà là con của bà Huỳnh Thị M (dì của bà). Vào năm 1997, bà có đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 2.304m² thuộc các thửa 609 và 612 tờ bản đồ số 4 xã H (theo hệ thống bản đồ cũ). Trong đó có phần thửa 609 tách ra một phần là thửa 5638 tờ bản đồ số 4 xã H (hệ thống bản đồ cũ) theo hệ thống bản đồ mới là thửa 34 tờ bản đồ 55 xã H (đất đang tranh chấp). Nguồn gốc đất là ông ngoại bà tên Huỳnh Văn S (chết 1939) và bà ngoại là Võ Thị Ú (chết năm 2000) để lại cho bà Huỳnh Thị M (người nuôi bà từ nhỏ không chồng con trên giấy khai sinh bà là con bà M) nên bà M để cho bà kê khai đăng ký đất. Đến năm 1997, thì bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thửa 33, 32, 34 tờ bản đồ số 55 (hệ thống bản đồ mới) tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Bà L có chuyển nhượng một phần thửa 33 tờ bản đồ số 55 tại xã H, hiện còn lại là thửa 34, 32 tờ bản đồ số 55 tại xã H cho ông T4. Năm 2019, do ông T4 cần đứng tên đất thổ, vườn nên bà L đã cho ông T4 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 (nay là thửa 34 tờ bản đồ số 55) bằng hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đến năm 2020 thì ông T4 đã ký chuyển nhượng để trả đất lại cho bà L.
Bà Huỳnh Thị Đ là mẹ ruột của bà sống với người chồng trước sinh ra bà. Bà Đ có chồng sau tên Văng Công K sinh ra 04 người em cùng mẹ khác cha là Văng Công L1, Văng Thị H, Văng Thị Loan A và Văng Thị Tuyết L2. Do mẹ bà Đ không có chổ ở nên bà có cho ở nhờ trên đất của bà từ năm 1995. Trước đó là căn nhà tạm mái lá, năm 2017, bà L sửa lại căn nhà cấp 4 như hiện nay. Hiện nay bà Đ đã chết thì ông K và ông L1 tiếp tục ở. Đến năm 2007, Nhà nước có cấp nhà đại đoàn kết cho cho ông K, do bà L mua nhà ở thị trấn Đ nên không biết việc nhà nước xây nhà cho ông K. Nhà nước cấp nhà cho ông K cũng không hỏi ý kiến của bà L. Đến khi bà L có dịp về thăm mồ mã thì mới phát hiện ông K đã cất nhà đại đoàn kết trên đất bà L, nhưng bà L cũng để cho ông K ở. Bà L có nói rõ là cho bà Đ, ông K ở đến hết đời thì bà sẽ lấy đất lại. Năm 2015, nhà có hư nên bà có bỏ tiền ra sửa nhà. Nay mẹ bà là Huỳnh Thị Đ chết bà L đề nghị ông K ông L1 phải di dời chổ ở trả lại nhà đất cho bà L. Bà L yêu cầu ông Văng Công K và ông Văng Công L1 di dời chổ ở trả cho bà nhà đất thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (hệ thống bản đồ cũ) nay là thửa 34 tờ bản đồ 55 xã H (hệ thống bản đồ mới).
Trước đây bà L cũng đã thế chấp quyền sử dụng đất này cho Ngân hàng N2 Chi nhánh Đ2 để vay tiền nhưng hiện nay bà L đã chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện (phản tố) của ông L1, ông K.
Bị đơn ông Văng Công L1 và ông L1 đại diện ông K trình bày: ông với bà Huỳnh Thị L là chị em cùng mẹ khác cha, mẹ ông là bà Huỳnh Thị Đ có người chồng trước sinh ra bà L và có người chồng sau là ông Văng Công K sinh ra 04 người con tên L1 (là ông), bà H, bà Loan A và bà Tuyết L2. Nguồn gốc đất mà bà L đứng tên là của ông bà ngoại chết để lại chưa chia cho ai. Đến năm 1991 thì mẹ ông về sống với bà ngoại khu đất hiện giờ đang tranh chấp. Đến năm 1995 thì mẹ ông có xin bà ngọai phần đất ra cất nhà riêng, hiện là phần đất đang tranh chấp thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 xã H (hệ thống bản đồ cũ) chỉ có 127m². Loại đất thổ cư. Đến năm 2007 thì UBND xã H cấp nhà đại đoàn kết cho cha mẹ ông (ngang D, dài 8m) theo quyết định cha ông là ông Văng Công K được cấp nhà trên đất thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Đến năm 2015, bà L về bán một phần và cho nhà ông nới thêm một phần đất nữa thành như hiện trạng hiện nay là ngang 7m dài 15m còn sân là của bờ sáng. Bà L có hứa sẽ tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông, bà L còn cho gia đình ông mượn 30.000.000 đồng để sửa nhà như hiện nay. Việc nhà nước cấp nhà Đ3 thì bà L không biết, do dì hai là bà M đồng ý cho xây. Qua yêu cầu khởi kiện của bà L ông không đồng ý. Vì đất này bà ngoại ông cho mẹ ông và bà L cũng là cháu ngoại tự ý kê khai toàn bộ đất ông bà ngoại để lại rồi bán nhiều lần con cháu không ai được chia chỉ có một mình bà L hưởng hết phần mẹ ông chỉ có cái nền nhà 127m² bà L cũng đòi lấy luôn là ông không đồng ý. Nay qua yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Lệ Đ1 cha con ông ra khỏi nhà thì ông không đồng ý. Nếu bà L có yêu cầu đòi 30.000.000 đồng thì ông đồng ý trả, còn việc yêu cầu cha con ông ra khỏi nhà, trả đất là không đồng ý. Bởi vì đất này không phải của bà L mà bà L tự kê khai trong lúc đó gia đình ông đang ở do bà ngoại cho cha mẹ ông. Bởi vì thực tế cha mẹ ông được bà ngoại cho đất ở từ năm 1993 đến nay.
Nay ông và ông đại diện cha ông là ông Văng Công K và các chị em ông Văng Thị H, bà Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị L2 Anh yêu cầu:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Huỳnh Thị L;
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638, TBĐ số 4 tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An giữa bà Huỳnh Thị L, ông Tuy Lê T với ông T4 ngày 18/12/2017;
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638, TBĐ số 4 tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An giữa ông T4 với bà bà L ngày 27/2/2020;
- Hủy thông tin chỉnh lý biến động ngày 09/02/2018 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ chỉnh lý từ bà Huỳnh Thị L sang ông Phạm Quang T4 tại thửa đất 5638 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cho các đồng thừa kế của bà Huỳnh Thị Đ tên Văng Công K, Văng Công L1, Văng Thị H, Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị Loan A được kê khai đăng ký.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Các ông bà - Biết, T6, R, N1, T, B và M1 trình bày: Các ông bà là con của bà Huỳnh Thị R1, mẹ ruột bà L và ông L1 là Huỳnh Thị Đ. Phần đất bà L đứng tên thửa 5638 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là đất của ông bà ngoại của ông bà chết để lại, anh em con cháu chưa ai chia. Bà L đứng tên rồi bán cho nhiều người. Bà Huỳnh Thị Đ cất nhà trên đất lúc đó bà ngoại của ông bà còn sống có thống nhất cho bà Đ nền nhà cất ở cho đến nay. Nay bà L đăng ký đất và đòi đuổi chồng con bà Đ đi thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Bởi vì đất này có nguồn gốc không phải của bà L. Các anh em ông không có ý kiến tranh chấp gì. Đồng thời các ông bà xin xét xử vắng mặt.
Bà Văng Thị H, bà Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị Loan A: Có văn bản trình bày ý kiến thống nhất với lời trình bày của ông L1 và xin xét xử vắng mặt.
Ông Phạm Quang T4 trình bày: Cách nay khoảng 5 năm ông có mua đất của bà L thửa 5638 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (hệ thống bản cũ) trên đất có nhà. Do không có nhu cầu sử dụng nên ông có chuyển nhượng lại cho bà L đứng tên. Trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất của bà L với ông K ông không có tranh chấp gì. Đồng thời ông xin xét xử vắng mặt.
Ông Phạm Xuân H1 trình bày: Ông là chủ sử dụng đất thửa 609 tờ bản đồ số 4 xã H hiện nay là thửa 33 tờ bản đồ 55 xã H. Khi ông nhận chuyển nhượng thì giữa ông và chủ đất giáp ranh có xác định ranh là bức tường gạch màu đỏ còn về việc hệ thống bản đồ thì ông không rõ lý do vì sao 01 mét đất chiều ngang của chủ đất giáp ranh nằm trong giấy chứng nhận của ông. Đối với 01 mét đất chiều ngang nằm đúng trong bức tường nhà giáp ranh thì ông không có tranh chấp gì. Đồng thời ông xin xét xử vắng mặt.
Ủy ban nhân dân xã H trình bày: Ngày 14/02/2007, UBND xã H có cấp nhà đại đoàn kết cho ông Văng Công K thuộc diện gia đình có hoành cảnh kinh tế khó khăn. Tại thời điểm xây nhà cho ông K thì bà L cũng không có ý kiến gì. Ngày 27/02/2020 UBND xã H có chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T4 và bà L. Nay giữa bà L và ông K có tranh chấp đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L trình bày ý kiến: Thửa 5638 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An có diện tích 127m² loại đất ONT theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành L 139210 ngày cấp 12/9/1997 do UBND huyện Đ cấp cho bà Huỳnh Thị L và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ký cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Phạm Quang T4 ngày 09/02/2018. Ngày 27/02/2020, ông Phạm Quang T4 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Huỳnh Thị L được UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Long An chứng thực số 36/2020 quyển số 01/2020-SCT/HĐGD. Bà Huỳnh Thị L nộp hồ sơ đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CV 135818 ngày cấp 26/3/2020. Việc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Huỳnh Thị L là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định.
Ủy ban nhân dân huyện Đ trình bày: Ngày 12/9/1997, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Đ ban hành quyết định số 659/QĐ.UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đơn vị xã H và 1.823 hộ cá nhân trong đó có bà Huỳnh Thị L với tổng diện tích 2.304m² gồm 02 thửa đất 609 và 612 tờ bản đồ số 4 xã H là căn cứ vào hồ sơ xét duyệt Hội đồng đăng ký xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu Trung ương của xã H và danh sách đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất theo mẫu Trung ương, trong đó có hộ bà Huỳnh Thị L (số thứ tự 125). Khi cấp giấy cho bà L thửa 609 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An không có thẩm định thực tế. Bởi vì trong hồ sơ cấp giấy không thể hiện có biên bản thẩm định thực tế.
Tại Bản án dân sự số 325/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tuyên:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L và ông Tuy Lê T về việc: “Tranh chấp Quyền sử dụng đất” với Văng Công K, Văng Công L1 về việc buộc ông Văng Công K và ông Văng Công L1 di dời chổ ở trả cho bà nhà đất thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (hệ thống bản đồ cũ) nay là thửa 34 tờ bản đồ 55 xã H (hệ thống bản đồ mới).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Văng Công K, Văng Công L1, Văng Thị H, Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị Loan A về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bà Huỳnh Thị L và ông Tuy Lê T:
- Các ông bà Văng Công K, Văng Công L1, Văng Thị H, Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị L2 Anh được liên hệ cơ quan có thẩm quyền kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (hệ thống bản đồ cũ) nay là thửa 34 tờ bản đồ 55 xã H (hệ thống bản đồ mới) diện tích 127m². Loại đất ONT. Vị trí đất tại Khu A của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH N3 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ duyệt ngày 09/4/2024.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Huỳnh Thị Lệ T7 ra từ thửa 609 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. (ngày cấp giấy thửa 609 là ngày 12/9/1997, ngày tách thửa ngày 28/7/2017);
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638, TBĐ số 4 tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An giữa ông Phạm Quang T4 với bà bà Huỳnh Thị L do UBND xã H chứng thực ngày 27/2/2020;
- Hủy thông tin chỉnh lý biến động ngày 09/02/2018 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ chỉnh lý từ bà Huỳnh Thị L sang ông Phạm Quang T4 tại thửa đất 5638 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị L tại thửa 5638 tờ bản đồ số 4, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An theo giấy số CV 135818 ngày 26/3/2020.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Văng Công K, Văng Công L1, Văng Thị H, Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị Loan A về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638, TBĐ số 4 tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An giữa bà Huỳnh Thị L, ông Tuy Lê T với ông Phạm Quang T4 ngày 18/12/2017;
- Về chi phí thẩm định, đo đạc, định giá và lập bản vẽ: Buộc bà L phải nộp 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) đã nộp xong và chi phí hết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Huỳnh Thị L và ông Tuy Lê T phải nộp 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0006438 ngày 30/10/2022 tại Chi cục Thi hành án huyện Đức Hòa được khấu trừ vào án phí. Như vậy bà L và ông T phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí. H2 lại ông Văng Công L1, Văng Thị Tuyết L2, Văng Thị Loan A và Văng Thị H số tiền 900.000 đồng theo các biên lai số 0005039, 0005038 và 0005037 ngày 04/7/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 24 tháng 9 năm 2024, bà Huỳnh Thị L có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị L - ông Đặng Hữu T1 phát biểu tranh luận: Các bên đều thừa nhận thử đất có nguồn gốc từ ông bà ngoại của bà L là cụ ông Huỳnh Văn S và cụ bà Võ Thị Ú Đến năm 1997 thì bà L được UBND xã H cấp giấy chứng nhận QSDĐ, tại thời điểm bà L được cấp giấy thì bà ngoại bà L vẫn còn sống và cũng không có ý kiến gì. Gia đình phía bị đơn là ông Văng Công K là người địa phương khác về do không có không có chổ ở nên bà L có cho ở nhờ trên đất của bà L từ năm 1995. Đến nay bà L yêu cầu phía gia đình ông Văng Công L1 trả đất cho bà để quản lí sử dụng nhưng phía ông Văng Công L1 không đồng ý. Tại buổi Hòa giải tại UBND xã, trong văn bản ông Văng Công L1 đồng ý trả lại đất cho bà L nhưng yêu cầu phía bà L bồi thường số tiền 1.500.000.000đồng. Từ lời trình bày này cho thấy ý chí của gia đình ông L1 xác định đây vẫn là đất thuộc sở hữu của bà L. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, bác yêu cầu phản tố của bị đơn sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của bà L.
Ông L1 tranh luận: Không đồng ý với lời trình bày phía ông T1 đưa ra, giữ nguyên yêu cầu phản tố. Đề nghị nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm tại Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa, Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của BLTTDS.
- Quan điểm giải quyết kháng cáo: xét kháng cáo của các nguyên đơn thấy rằng:
Kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị L đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272, 273, 276 BLTTDS. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Thửa đất 5638 tờ bản đồ số 04 xã H có diện tích 127m2, đất ở nông thôn, tách từ thửa 609 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An có nguồn gốc của cụ ông Huỳnh Văn S và cụ bà Võ Thị Ú (chết năm 2000) là cha mẹ bà Huỳnh Thị Đ, Huỳnh Thị M là ông bà ngoại của bà L cũng là ông bà ngoại của ông L1 chết để lại. Bà Huỳnh Thị L được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận ngày 12/9/1997, khi cấp giấy không có thẩm định thực tế người đang sử dụng đất. Bà L kê khai đăng ký đất của bà Ú và ông S nhưng không có giấy tờ gì chứng minh là được sự đồng ý của bà Ú (thời điểm đó bà Ú còn sống), hiện nay không có sự đồng ý của các con bà Ú và ông S. Trong khi đó bà Đ và gia đình bà Đ là người đang ở trên đất tại thời điểm đó bà L kê khai.
Ngày 27/12/2020, bà L chuyển nhượng cho ông Phạm Quang T4 thửa 612 tờ bản đồ số 4 xã H theo hợp đồng số 36/2020 quyển số 01/2020- SCT/HĐGD. Tuy nhiên khi cấp giấy cho ông T4 theo hình thức chỉnh lý biến động ngày 09/02/2018 thì Chi nhánh chỉnh lý luôn cho ông T4 đứng tên thửa 5638 tờ bản đồ số 4 xã H (Theo bà L trình bày là ông T4 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà). Đến ngày 27/02/2020, ông Phạm Quang T4 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa 612 và 5638 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An có tổng diện tích 829m² lại cho bà L đứng tên. Ngày 26/3/2020, bà Huỳnh Thị L được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 5638 tờ bản đồ số 4 xã H diện tích 127m², loại đất thổ cư trên đất hiện có nhà ông K và ông L1.
Phía bị đơn cho rằng từ năm 1993, thì Cụ Võ Thị Ú đã cho bà Huỳnh Thị Đ (con gái bà Ú) và ông Văng Công K (con rể bà Ú) cất nhà ở trên đất và sinh sống ổn định đến nay, trong có sự chứng kiến của các con bà R1, còn bà L cũng thừa nhận bà Đ (là người sinh ra bà) ở trên đất này từ 1995 đến nay, ở trước thời điểm bà được cấp giấy.
Do đó việc bà L kê khai đăng ký đứng tên là không phù hợp, không đúng đối tượng sử dụng đất. Hơn nữa. năm 2007 UBND xã H cũng cất nhà đại đoàn kết cho ông K và bà Đ cùng các con sinh sống trên mảnh đất này bà L cũng không có ý kiến gì. Vậy việc bà L đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông K và ông L1 phải di dời chổ ở trả lại nhà đất cho bà là không có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị L: Căn cứ Khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị L được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
- [1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, người vắng mặt có đơn xin vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Huỳnh Thị L, thấy rằng:
- [2.1] Các đương sự cùng thống nhất đất tranh chấp thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (hệ thống bản đồ cũ) nay là thửa 34 tờ bản đồ 55 xã H (hệ thống bản đồ mới) diện tích 127m². Loại đất ONT. Ngày 26/3/2020, bà Huỳnh Thị L được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng trên đất hiện có nhà ông K và ông L1. Vị trí đất tại Khu A của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH N3 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ duyệt ngày 09/4/2024. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2.2] Xét nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ lời trình bày của các đương sự cùng các chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm thu thập có trong hồ sơ thấy rằng: Thửa 5638 tờ bản đồ số 04 xã H có diện tích 127m²; Loại đất ở nông thôn, có nguồn gốc của cụ ông Huỳnh Văn S và cụ bà Võ Thị Ú (chết năm 2000) là cha mẹ bà Huỳnh Thị Đ là ông bà ngoại của bà L cũng là ông bà ngoại của ông L1 chết để lại (Thửa đất 5638 tách từ thửa 609 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An). Từ năm 1993, thì cụ Võ Thị Ú đã cho bà Huỳnh Thị Đ (con gái bà Ú) và ông Văng Công K (con rể bà Ú) cất nhà ở trên đất và sinh sống ổn định đến nay, trong có sự chứng kiến của các con bà R1, còn bà L cũng thừa nhận bà Đ (là người sinh ra bà) ở trên đất này từ 1995 đến nay, trước thời điểm bà được cấp giấy. Ngày 12/9/1997, bà Huỳnh Thị L được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cớ sở đăng ký kê khai. Tuy nhiên hồ sơ bà L kê khai đăng ký đất không có giấy tờ gì chứng minh bà L được bà Ú (thời điểm đó bà Ú còn sống) cho đất cho bà L. Và khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ quan quản lý đất đai không có thẩm định thực tế người đang sử dụng đất. Trong khi đó bà Đ và gia đình bà Đ là người đang ở trên đất tại thời điểm đó bà L kê khai.
Ngày 27/12/2020, bà L chuyển nhượng cho ông Phạm Quang T4 thửa 612 tờ bản đồ số 4 xã H theo hợp đồng số 36/2020 quyển số 01/2020- SCT/HĐGD. Tuy nhiên khi cấp giấy cho ông T4 theo hình thức chỉnh lý biến động ngày 09/02/2018 thì Chi nhánh chỉnh lý luôn cho ông T4 đứng tên thửa 5638. Đến ngày 27/02/2020, ông Phạm Quang T4 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa 612 và 5638 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An có tổng diện tích 829m² lại cho bà L đứng tên. Ngày 26/3/2020, bà Huỳnh Thị L được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 5638 tờ bản đồ số 4 xã H diện tích 127m², loại đất thổ cư trên đất hiện có nhà ông K và ông L1.
Do đó việc bà L kê khai đăng ký kê khai và được đứng tên thửa đất 5638 (theo hệ thống bản đồ cũ) nay là thửa 34 tờ bản đồ 55 xã H diện tích 127m² đứng tên là không phù hợp, không đúng đối tượng sử dụng đất. Hơn nữa. năm 2007 UBND xã H cũng cất nhà đại đoàn kết cho ông K và bà Đ cùng các con sinh sống trên mảnh đất này bà L cũng không có ý kiến gì. Vậy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về buộc ông K và ông L1 phải di dời chỗ ở trả lại nhà đất cho bà L; chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Văng Công K, Văng Công L1, Văng Thị H, bà Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị L2 Anh là có căn cứ và đúng pháp luật. Bà L kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới ngoài các chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm thu thập nên không chấp nhận kháng cáo của bà L. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án số 325/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Thị L phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận được chấp nhận.
[4] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Huỳnh Thị Lệ .
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 325/2024/DS-ST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483; Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 223, Điều 235, Điều 500, Điều 502, Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100 và Điều 166 Luật đất đai 2013
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L và ông Tuy Lê T về việc: “Tranh chấp Quyền sử dụng đất” với Văng Công K, Văng Công L1 về việc buộc ông Văng Công K và ông Văng Công L1 di dời chổ ở trả cho bà nhà đất thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (hệ thống bản đồ cũ) nay là thửa 34 tờ bản đồ 55 xã H (hệ thống bản đồ mới).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Văng Công K, Văng Công L1, Văng Thị H, Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị Loan A về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bà Huỳnh Thị L và ông Tuy Lê T.
- Các ông bà Văng Công K, Văng Công L1, Văng Thị H, Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị L2 Anh được liên hệ cơ quan có thẩm quyền kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (hệ thống bản đồ cũ) nay là thửa 34 tờ bản đồ 55 xã H (hệ thống bản đồ mới) diện tích 127m². Loại đất ONT. Vị trí đất tại Khu A của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH N3 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ duyệt ngày 09/4/2024.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638 tờ bản đồ số 4 tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Huỳnh Thị Lệ T7 ra từ thửa 609 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. (ngày cấp giấy thửa 609 là ngày 12/9/1997, ngày tách thửa ngày 28/7/2017);
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638, TBĐ số 4 tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An giữa ông Phạm Quang T4 với bà bà Huỳnh Thị L do UBND xã H chứng thực ngày 27/2/2020;
- Hủy thông tin chỉnh lý biến động ngày 09/02/2018 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ chỉnh lý từ bà Huỳnh Thị L sang ông Phạm Quang T4 tại thửa đất 5638 tờ bản đồ số 4 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị L tại thửa 5638 tờ bản đồ số 4, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An theo giấy số CV 135818 ngày 26/3/2020.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Văng Công K, Văng Công L1, Văng Thị H, Văng Thị Tuyết L2 và Văng Thị Loan A về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 5638, TBĐ số 4 tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An giữa bà Huỳnh Thị L, ông Tuy Lê T với ông T4 ngày 18/12/2017;
- Về chi phí thẩm định, đo đạc, định giá và lập bản vẽ: Buộc bà L phải nộp 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) đã nộp xong và chi phí hết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Huỳnh Thị L và ông Tuy Lê T phải nộp 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0006438 ngày 30/10/2022 tại Chi cục Thi hành án huyện Đức Hòa được khấu trừ vào án phí. Như vậy bà L và ông T phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí. H2 lại ông Văng Công L1, Văng Thị Tuyết L2, Văng Thị Loan A và Văng Thị H số tiền 900.000 đồng theo các biên lai số 0005039, 0005038 và 0005037 ngày 04/7/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005701 ngày 24/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. /.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Huỳnh Thị Hồng Vân - Hoàng Thị Thúy Lành | Huỳnh Hữu Nghĩa |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hữu Nghĩa |
Bản án số 239/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 239/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án
