| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 239/2024/HS-PT | |
| Ngày: 30 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Thẩm phán: 1. Bà Mai Trần Cảnh
2. Bà Đoàn Thị Hương Giang
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thủy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số: 220/HSPT ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo Trương Ngô Hoàng P, Nguyễn Hải D, Đoàn Khắc P1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có kháng cáo:
-
Đoàn Khắc P1; Sinh ngày: 01/02/2004 tại Quảng Ngãi; Nơi đăng ký thường trú: Đội 7, A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở: 62/5/9 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 12/12; Con ông Đoàn Khắc N và bà Lê Thị Đ; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Năm 2019 bị công an Q xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích, bằng hình thức cảnh cáo;
- Ngày 26/02/2024 bị công an quận P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trồng các loại cây thuốc phiện, cần sa, cây C, cây khát và các loại cây khác có chứa chất ma túy”; Ngày 06/03/2024 đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/8/2023, tạm giam từ ngày 12/8/2023 – Có mặt.
-
Nguyễn Hải D; Sinh ngày: 07/05/2000 tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký thường trú: Xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở: 62/5/9 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 5/12; Con ông Nguyễn Văn L và bà Lữ Thị C1; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/02/2024 bị công an quận P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trồng các loại cây thuốc phiện, cần sa, cây C, cây khát và các loại cây khác có chứa chất ma túy”. Ngày 06/03/2024 đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2023, tạm giam từ ngày 12/8/2023 – Có mặt
-
Trương Ngô Hoàng P; Sinh ngày 12/01/2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 45 Trần Tuấn K, phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 62/5/9 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 9/12; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Trương Thị Thanh H; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/02/2024 bị công an quận P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trồng các loại cây thuốc phiện, cần sa, cây C, cây khát và các loại cây khác có chứa chất ma túy”. Ngày 06/03/2024 đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2023, tạm giam từ ngày 12/8/2023 – Có mặt
- Người bào chữa:
Bà Phan Mỹ L2, là Luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, bào chữa theo yêu cầu cho các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P - Có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hoàng H1 không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị, nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 02/8/2023, Công an phường G, quận P tiếp nhận tin báo từ một nam thanh niên chạy xe ôm công nghệ tên Nguyễn Trung T đến trình báo: Vào lúc 18 giờ 10 phút ngày 02/8/2023, T đang hành nghề shipper Gojek thì nhận được đơn giao hàng từ số điện thoại 0934.844.xxx tại nhà đối diện địa chỉ 6 T, B, quận B, TP . của người có tên “Doan Phuoc” giao hàng đến D H, phường G quận P. Khi đến nơi, T gọi điện vào số 0934844817 để nhận hàng thì một người đàn ông có đặc điểm ốm, cao tầm 1m60, đi ra từ nhà có cửa màu cam đối diện nhà 62/5/22 Trương Phước Phan r đưa cho T 01 gói hàng được bao bọc nylon nhiều lớp. Sau khi nhận gói hàng, T chạy xe đến ngã tư H và H, phường G, quận P thì nghi ngờ gói hàng này là hàng cấm nên đến Công an phường G, quận P trình báo sự việc. Tại trụ sở công an phường G, quận P, có sự chứng kiến của T và người dân, Công an kiểm tra gói hàng mà T mang đến bên trong có chứa thảo mộc khô nghi vấn là cần sa (mẫu giám định m1) và lập biên bản tạm giữ, niêm phong.
Qua điều tra ban đầu, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy xác định người đặt Tín vận chuyển cần sa là Đoàn Khắc P1, sử dụng số điện thoại 0934.844.xxx.
Ngày 03/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Khắc P1 tại nhà số F T, B, quận B, TP H. Tại thời điểm khám xét, trong nhà có các đối tượng gồm Đoàn Khắc P1; Nguyễn Hải D; Nguyễn Hoàng H1 và Trương Ngô Hoàng P. Qua khám xét, cơ quan điều tra phát hiện và thu giữ của P1 04 thùng carton chứa các túi nylon hoặc bao kín màu trắng, bao kín màu xanh, 01 hũ thủy tinh có nắp đậy, tất cả đều chứa thảo mộc khô và một số đồ vật, tài liệu liên quan đến hoạt động mua bán ma túy.
Các bị cáo khai nhận: ngoài việc mua cần sa về đem bán, các bị cáo còn trồng cây cần sa với mục đích làm ra thành phẩm cần sa để bán tại nhà số A T, Phường B, quận B và nhà số A B, Phường B, quận B. Do đó, cùng ngày 03/8/2023, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp 02 địa điểm, cụ thể: Tại nhà số A T, Phường B, quận B, công an phát hiện tại khu vực gác gỗ lầu 2 của có diện tích 7,8m² có hệ thống nuôi trồng cây nhà kín, trên 02 sàn kệ sắt có 24 cây thảo mộc tươi (mẫu giám định m9, m10); Tại nhà số A B, Phường B, quận B, công an phát hiện tại phòng ngủ lầu 1 bên trái lối lên cầu thang căn nhà có hệ thống nuôi trồng cây trong nhà kín diện tích 8,7m² và thu giữ 37 cây thảo mộc tươi (mẫu giám định m11, m12, m13), 02 cân điện tử.
Tại cơ quan điều tra, Đoàn Khắc P1 khai nhận: P1 quen biết với Nguyễn Hoàng H1 qua chơi game trên mạng xã hội và quen biết với Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P qua giới thiệu của bạn ngoài xã hội hơn 1 năm. Sau đó P1 nảy sinh ý định mua cần sa cất sẵn tại nhà P1 đang thuê ở số F T, phường B, quận B rồi tìm khách mua để bán lại kiếm lời nên nhắn tin rủ D, P, H1 đến ở cùng và tham gia mua bán cần sa, 03 người này đồng ý, cả nhóm thống nhất cùng nhau làm; P1 là người bỏ vốn nên quyết định giá bán, quản lý các hoạt động mua bán cần sa. P1 sử dụng tài khoản TopDealer tham gia vào hội nhóm mạng xã hội Telegram để trao đổi và đã nhiều lần mua cần sa của người có tài khoản T1 là Tôn Ngộ K1 (P1 thường gọi là S, không rõ tên thật và chưa gặp trực tiếp) hình thức gối đầu, tức Sanh gửi cần sa qua xe ôm truyền thống giao đến nhà cho P1, khi nào P1 bán được cần sa thì chuyển khoản trả tiền vốn cho S. Đối chiếu bản sao kê giao dịch tài khoản ngân hàng S1 số [...] của P1, P1 không xác định được tài khoản nào là của S vì mỗi lần chuyển khoản S đều đưa các số tài khoản khác nhau, số dư tài khoản tính đến hết ngày 01/8/2024 là 8.254.336 đồng. Ngoài ra có lần D chỉ cho P1 thông tin người bán trên mạng để P1 mua khoảng 03 kg cần sa. Sau đó, P1 rao bán cần sa trên các nhóm chat T1 và trực tiếp nhận đơn cần sa, rồi giao cho D, P, H1 đóng gói cần sa bằng cách cho gói cần sa vào giữa quần áo cũ rồi bỏ vào túi nylon, hút chân không; sử dụng điện thoại di động kết nối với máy in để tạo đơn hàng quần áo và in ra dán lên gói nylon chứa cần sa để tránh bị phát hiện rồi đặt xe công nghệ chuyển gói cần sa giao đến địa chỉ người mua cung cấp, cũng có nhiều lần H1, P trực tiếp đi giao cần sa; người mua cần sa chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng B1 của P, P chuyển tiền lại cho P1 quản lý. Ai cần chi tiêu sinh hoạt thì P1 đưa. Riêng P có hoàn cảnh khó khăn nhất trong nhóm nên P1 đưa cho P từ 1.500.000đ-2.000.000đ/tuần để P gửi về quê. Thỉnh thoảng H1 giới thiệu người mua cần sa cho P1 thì P1 trả cho H1 từ 200.000₫ – 300.000đ/đơn cần sa. Có lần D tìm được người hỏi mua cần sa nên nhắn tin hỏi P1 giá bán nhưng khi D báo giá thì người này không liên hệ lại.
Sau khi mua bán cần sa được khoảng 02 tuần thì P1 nghe D nói biết kỹ thuật trồng cây cần sa nhưng không có tiền để làm, nên P1 bàn bạc với cả nhóm là P1 sẽ bỏ tiền đầu tư cho D mua giống, thiết bị để trồng cây cần sa, P và H1 phụ giúp Dương trồng, chăm sóc cây đến khi thu hoạch thành cần sa khô đem bán được thì tiền lời sẽ chia đều cho 04 người, D, P, H1 đồng ý. P1 sử dụng tiền lời bán cần sa đưa cho D mua giống, thiết bị và trả tiền thuê 02 căn nhà tại số A T, phường B, quận B và số A B, phường B, quận B để trồng cần sa (P1 kêu H1 và D đứng tên người thuê nhà trên Hợp đồng để tránh bị phát hiện).
Ngày 31/7/2023 P1 liên hệ qua T1 với một người tên Đ1 (tài khoản tên A N1) đặt vấn đề bán cần sa cho Đ1 (P1, P, H1, D đã từng gặp Đ1 khi hẹn uống cà phê), Đ1 nói chỉ còn 6.000.000 đồng và P1 đồng ý bán 02 kg cần sa với giá 6.000.000 đồng. Sau khi tài khoản ngân hàng B1 số 3111000139915 của P nhận tiền của Đ1 chuyển tiền bằng tài khoản Momo thì P1 đóng sẵn gói cần sa 02 kg bỏ vào thùng carton và để ở cầu thang. Đến khoảng 08 giờ ngày 02/8/2023 P1 đang ở nhà số F T, phường B, quận B cùng với P, D thì nhận tin nhắn của Đ1 kêu giao cần sa nên P1 đặt xe công nghệ. Khi tài xế xe công nghệ Gojek Nguyễn Trung T đến nơi, D mang gói cần sa ra đưa T để đi giao cho Đ1 rồi cả nhóm đi ăn. Khi công an kiểm tra tại nhà thì P1 thấy thùng cần sa 02 kg còn ở cầu thang, D đã giao nhầm gói cần sa khoảng 800g cho Đ1. P1 không nhớ chính xác số lần bán cần sa cho Đ1 mà chỉ nhớ khoảng tháng 6-7 năm 2023 bán cho Đ1 khoảng 500g cần sa loại Indoor với giá 12.000.000 đồng, H1, P gói cần sa rồi giao trực tiếp cho Đ1 hoặc đặt xe công nghệ đi giao. Các giao dịch chuyển khoản giữa Đ1 và P1 đều là mua bán cần sa. Căn cứ bản sao kê thì Đ1 đã sử dụng tài khoản M chuyển cho P1 tổng cộng 42.557.000 đồng.
Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P và Nguyễn Hoàng H1 đều khai nhận được Đoàn Khắc P1 rủ tham gia mua bán cần sa khô và trồng cây cần sa với mục đích thu hoạch cần sa khô để bán; P1 là người tổ chức, quản lý tiền mua bán cần sa; D, P, H1 được P1 lo chi tiêu, sinh hoạt hàng ngày và P1 sẽ chia đều lợi nhuận khi thu hoạch cây cần sa nên đã giúp sức cho P1, cụ thể:
Nguyễn Hải D: nhiệm vụ chính là trồng cây cần sa đến khi thu hoạch thành cần sa khô đem bán, khi rảnh thì đóng gói cần sa. P1 đã đưa D khoảng 160.000.000 đồng để mua giống, trang thiết bị cho việc trồng cây cần sa. Ngoài ra, D giới thiệu đối tượng bán cần sa để P1 mua 01 lần và chào hàng cần sa trên mạng xã hội để P1 bán nhưng chưa bán được đơn nào.
Nguyễn Hoàng H1: có nhiệm vụ đóng gói cần sa, in đơn hàng quần áo dán lên túi nylon chứa cần sa, chuyển gói cần sa đến công ty C2 nhanh giao cho người mua ở tỉnh, chăm sóc cây cần sa và được P1 cho khoảng 15.000.000 đồng để lo gia đình. Ngoài ra, P1 sử dụng số điện thoại nước ngoài tạo cho H1 tài khoản tên Nguyễn B trên T1 để H1 trực tiếp tìm người mua cần sa. H1 đã giúp P1 bán khoảng 03 đơn cần sa, không nhớ rõ số lượng và được P1 trả công từ 200.000 đồng – 300.000 đồng/ đơn. H1 còn trực tiếp giao 150g cần sa cho Đ1 tại số D H, Phường G, quận P bằng xe mô tô biển số 59G2-591.08 của P1. Ngày 02/8/2023 các đối tượng đã bán 01 đơn cần sa cho Đ1 và 05 đơn cần sa cho khách trên mạng xã hội.
Trương Ngô Hoàng P: có nhiệm vụ đóng gói cần sa, chuyển gói cần sa đến công ty C2 nhanh giao cho người mua ở tỉnh hoặc đặt xe công nghệ giao cần sa cho người mua ở thành phố, nhận tiền bán cần sa qua tài khoản ngân hàng của mình, chăm sóc cây cần sa. Thỉnh thoảng P trực tiếp đi giao cần sa, trong đó có 01 lần giao cho Đ1 tại số D H, Phường G, quận P bằng xe mô tô biển số 51F8-0215 của P1.
Tại bản kết luận giám định số 8589/KL-KTHS ngày 11/08/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H, tổng khối lượng cần sa khô thu giữ (từ mẫu m1 đến mẫu m8) là 14.259,32gam; 61 cây cần sa tươi thu giữ (từ mẫu m9 đến mẫu m13) là 29.962,37gam.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22-5-2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ Điều 38, điểm a, b, k khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố các bị cáo Đoàn Khắc P1, Trương Ngô Hoàng P, Nguyễn Hải D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a, b, k khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Đoàn Khắc P1 11 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023.
Áp dụng điểm a, b, k khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải D 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023.
Áp dụng điểm a, b, k khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Trương Ngô Hoàng P 09 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Phạt bổ sung bị cáo P1 20.000.000 đồng, các bị cáo D, P mỗi bị cáo 10.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử đối với bị cáo Nguyễn Hoàng H1, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/6/2024 các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P, có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Nguyễn Hoàng H1 không kháng cáo, không bị kháng nghị.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P, đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra các bị cáo trình bày thêm:
Bị cáo P1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo đã nộp được 20.000.000 đồng (trong đó có 10.000.000 đồng là tiền có được từ việc mua bán ma túy, bị cáo nộp lại để khắc phục hậu quả; 10.000.000 đồng là một phần tiền phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm đã tuyên).
Các bị cáo D, P cũng đồng ý và sẵn sàng nộp lại khoản tiền có được từ việc giúp P1 mua bán ma túy để khắc phục hậu quả và một phần khoản tiền phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm tuyên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo Đoàn Khắc P1 11 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Hải D 10 năm tù, bị cáo Trương Ngô Hoàng P 09 năm 03 tháng tù, là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo Đoàn Khắc P1 bổ sung chứng cứ thể hiện bị cáo đã nộp 20.000.000 đồng tại cơ quan thi hành án dân sự (trong đó 10.000.000 đồng là tiền khắc phục hậu quả, 10.000.000 đồng là một phần tiền phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm đã tuyên), các bị cáo Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P cũng có thiện chí nộp lại một phần tiền khắc phục hậu quả và 01 phần tiền phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội với nhiều tình tiết tăng nặng định khung với thủ đoạn phạm tội tinh vi, nên mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người bào chữa cho các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D Trương Ngô Hoàng P là Luật sư Phan Mỹ L2, trình bày:
Không có ý kiến về tội danh và khung hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo, tuy nhiên mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo là nặng, chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ, gây bất lợi cho các bị cáo, cụ thể:
Đối với bị cáo Đoàn Khắc P1: Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo đã tác động gia đình nộp lại 20.000.000 đồng (10.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả, 10.000.000 đồng là tiền phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm); Bị cáo cũng đã tác động gia đình nộp phạt xong theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trồng cần sa. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, chưa được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo P1, sửa án sơ thẩm. Áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Khắc P1 10 năm tù là phù hợp.
Đối với các bị cáo Nguyễn Hải D và Trương Ngô Hoàng P: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo luôn thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra tại cấp phúc thẩm cả hai bị cáo đều có thiện chí tác động gia đình để nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả và một phần tiền là hình phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm đã tuyên. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, chưa được cấp sơ thẩm ghi nhận. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo Nguyễn Hải D và Trương Ngô Hoàng P, sửa án sơ thẩm. Áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm cho hai bị cáo một phần hình phạt, xử phạt bị cáo Nguyễn Hải D 08 năm 06 tháng tù, bị cáo Trương Ngô Hoàng P 08 năm 06 tháng tù, cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận đối đáp với Luật sư bào chữa cho các bị cáo:
Về tội danh, khung hình phạt và tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như Luật sư đề nghị, là phù hợp với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, nên không có ý kiến gì khác.
Các bị cáo đã nộp hay có thiện chí sẵn sàng nộp lại một phần khoản tiền do phạm tội mà có và hình phạt bổ sung, là nghĩa vụ của các bị cáo phải thực hiện, không phải là bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả. Hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo không thể bồi thường được bằng tiền. Mặt khác các bị cáo ngoài hành vi phạm tội bị xét xử còn có hành vi vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính, nên không thể cho rằng các bị cáo là những người có nhân thân tốt. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Luật sư bào chữa cho các bị cáo về việc áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Sau khi tranh luận đối đáp, các bên vẫn giữ nguyên ý kiến, quan điểm như đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P, làm trong hạn luật định là phù hợp, nên được giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xét thấy lời khai của các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, qua đó đã có đủ cơ sở xác định: Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hoàng H1, Nguyễn Hải D và Trương Ngô Hoàng P là bạn bè. P1 nảy sinh ý định mua cần sa để bán lại kiếm lời nên rủ D, P, H1 đến ở cùng nhà số F T, phường B, quận B để mua bán cần sa, 03 người này đồng ý. Cả nhóm thống nhất P1 là người bỏ vốn nên quyết định giá bán, quản lý các hoạt động mua bán cần sa. P1 sử dụng mạng xã hội Telegram để trao đổi và mua cần sa cũng như rao bán cần sa cho những người không rõ lai lịch trên các nhóm chat Telegram, trực tiếp nhận đơn cần sa, rồi giao cho D, P, H1 đóng gói, đặt xe công nghệ chuyển gói cần sa giao cho người mua, cũng có nhiều lần H1, P trực tiếp đi giao cần sa. Ngoài ra có lần D cung cấp cho P1 thông tin để mua cần sa.
P1 còn sử dụng tiền lời bán cần sa đưa cho D mua giống, thiết bị và trả tiền thuê 02 căn nhà tại số A T, phường B, quận B và số A B, phường B, quận B và giao cho P và H1 phụ giúp Dương trồng chăm sóc cần sa.
Ngày 31/7/2023 P1 liên hệ qua T1 với một người tên Đ1 để bán cần sa cho Đ1. Qua thỏa thuận P1 đồng ý bán 02 kg cần sa với giá 6.000.000 đồng. P1 đóng sẵn gói cần sa 02 kg bỏ vào thùng carton và để ở cầu thang. Đến khoảng 08 giờ ngày 02/8/2023 P1 đang ở nhà cùng với P, D thì Đ1 kêu giao cần sa nên P1 đặt xe công nghệ do tài xế Nguyễn Trung T đến, D mang gói cần sa ra đưa T để đi giao cho Đ1, sau đó T trình báo Công an, kiểm tra phát hiện gói hàng T nhận từ D đi giao cho Đ1 là cần sa có khối lượng 805,61gram. Tiến hành khám xét nơi ở của các bị cáo tại nhà số F T, phường B, phát hiện và thu giữ của P1 04 thùng carton chứa các túi nylon hoặc bao kín màu trắng, bao kín màu xanh, 01 hũ thủy tinh có nắp đậy, tất cả đều chứa thảo mộc khô, qua giám định là cần sa, có khối lượng 13.453,71 gram. P1 đã nhiều lần bán cần sa cho Đ1 nhưng không nhớ chính xác số lần, căn cứ giao dịch chuyển khoản giữa Đ1 và P1 đều là mua bán cần sa. Đ1 đã sử dụng tài khoản M chuyển cho P1 tổng cộng 42.557.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D và Trương Ngô Hoàng P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm a, b, k khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng quy định của Pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D và Trương Ngô Hoàng P, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo là những người đã trưởng thành, biết rõ cần sa là một loại ma túy, hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần một cách hết sức tinh vi chặt chẽ, mua bán cần sa thông qua mạng xã hội và dịch vụ giao hàng để qua mặt cơ quan chức năng, có tổ chức phân công vai trò nhiệm vụ cho từng người, hoạt động phạm pháp trong một thời gian dài với số lượng cần sa tương đối lớn. Mặt khác các bị cáo là những người có nhân thân xấu, ngoài hành vi phạm tội bị xét xử còn có hành vi vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính. Tại cấp phúc thẩm mặc dù bị cáo Đoàn Khắc P1 đã nộp 20.000.000 đồng (theo bị cáo 10.000.000 đồng là tiền khắc phục hậu quả, 10.000.000 đồng là một phần tiền phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm đã tuyên), đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Hải D, Trương Ngô Hoàng P cũng có thiện chí nộp lại khoản tiền do phạm tội mà có và 01 phần tiền phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm. Tuy nhiên xét thấy tài sản do phạm tội mà có và hình phạt bổ sung, là nghĩa vụ của các bị cáo phải thi hành. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy trong cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, gây mất an trật tự an toàn xã hội. Hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo không thể bồi thường khắc phục được bằng tiền, nên không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, qua đó tuyên phạt bị cáo P1 mức án 11 năm 06 tháng tù, bị cáo D 10 năm tù và bị cáo P 09 năm 03 tháng tù. Tại cấp phúc thẩm mặc dù bị cáo P1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên xét thấy mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D và Trương Ngô Hoàng P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Nhận định trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của Luật sư bào chữa cho các bị cáo, chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4] Về xử lý vật chứng:
Tại cấp phúc thẩm bị cáo Đoàn Khắc P1 đã nộp được 10.000.000 đồng tiền do phạm tội mà có và 10.000.000 đồng là một phần tiền phạt bổ sung, theo như bản án sơ thẩm đã tuyên, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D và Trương Ngô Hoàng P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D và Trương Ngô Hoàng P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố các bị cáo Đoàn Khắc P1, Nguyễn Hải D và Trương Ngô Hoàng P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Căn cứ vào các điểm a, b, k khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Khắc P1 11 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023.
+ Căn cứ vào điểm a, b, k khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải D 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023.
+ Căn cứ vào điểm a, b, k khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Ngô Hoàng P 09 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023.
[2] Về xử lý vật chứng:
Ghi nhận bị cáo Đoàn Khắc P1 đã nộp được 10.000.000 (mười triệu) đồng tiền do phạm tội mà có và 10.000.000 (mười triệu) đồng là một phần tiền phạt bổ sung, theo như bản án sơ thẩm đã tuyên.
[3] Các bị cáo Đoàn Khắc P1, Trương Ngô Hoàng P, Nguyễn Hải D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |
Bản án số 239/2024/HS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 239/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Khắc Phước và đồng phạm Mua bán trái phép chất ma túy
