Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 239/2024/DS-ST

Ngày: 25/9/2024

V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. bà Cao Thị Loan
  2. bà Phạm Thị Ngọc Vân

- Thư ký phiên toà: bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Ngọc Trang – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2024/TLST - DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QĐXX - DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn V

Địa chỉ: A T, phường H, TP ., tỉnh Tiền Giang

Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn A – giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1978

Địa chỉ: A T, phường A, TP ., tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: bà Trần Kim T1, sinh năm 194

Địa chỉ: B L, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

Các đương sự có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 21 tháng 5 năm 2024 của công ty trách nhiệm hữu hạn V và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Ngày 27/9/2012, công ty TNHH V (gọi tắt là công ty V) ký hợp đồng kinh tế về nhận thầu thi công nhà ở với bà T1 với nội dung: thời gian thi công: 4,5 tháng; thời gian bảo hành: 06 tháng; Giá trị khoán gọn hợp đồng: 1.286.000.000 đồng; phương thức thanh toán: mỗi tháng 200.000.000 đồng trong vòng 4,5 tháng là 900.000.000 đồng, còn lại 386.000.000 đồng thanh toán trong vòng 04 tháng kể từ ngày bàn giao nhà. Bà T1 đã thanh toán cho công ty V đúng thỏa thuận tổng cộng là 900.000.000 đồng. Tuy nhiên sau khi nhà được bàn giao thì bà T1 sử dụng nhưng chưa thanh toán hết số tiền theo thỏa thuận.

Ngày 01/6/2018, bà T1 ký xác nhận còn nợ công ty V số tiền 108.000.000 đồng, đồng ý thanh toán hết vào ngày 01/6/2019, tuy nhiên đến nay bà T1 vẫn chưa thanh toán.

Nay công ty V yêu cầu bà T1 trả số tiền nợ gốc là 108.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả từ ngày 02/6/2019 đến khi trả xong nợ với lãi suất 0,83%/tháng.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 12 tháng 9 năm 2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Trần Kim T1 trình bày:

Năm 2012 bà có hợp đồng thi công công trình xây dựng là nhà ở cho bà tại khu phố C, phường I, thành phố M với công ty TNHH V. Nội dung là công ty TNHH V tiến hành xây nhà cho tôi với giá trị công trình là 1.286.000.000 đồng. Quá trình thi công có tăng thêm và giảm một số hạng mục nên số tiền hợp đồng còn lại là 1.208.374.153 đồng. Công ty TNHH V đã xây nhà xong cho bà vào đầu năm 2013. Đến ngày 06/62016 bà đã thanh toán xong tiền cho công ty V với số tiền trả tiền mặt và chuyển khoản là 1.290.000.000 đồng và đã trả dư cho công ty V số tiền 81.625.847 đồng. Bà thừa nhận giấy xác nhận ngày 01/6/2018 do bà ký tên nhưng do lúc đó bà mất sổ ghi chép việc trả tiền cho công ty V nên không nhớ đã trả tiền cho công ty V chưa nên bà có ghi giấy xác nhận nợ 108.000.000 đồng cho công ty V. Sau đó năm 2019 bà mới tìm lại được sổ sách và có gặp kế toán của công ty V để đối chiếu lại nợ. Từ đó đến nay công ty V không có đòi nợ bà về việc còn nợ tiền xây nhà.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của công ty V bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của công ty V do bà không còn nợ công ty V.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ tranh chấp: mặc dù giữa công ty V và bà Trần Kim T1 có ký kết hợp đồng kinh tế năm 2012 nhưng các bên thừa nhận đã chấm dứt việc thực hiện hợp đồng và bà T1 đã xác định nghĩa vụ thanh toán tiền còn nợ theo giấy xác nhận ngày 01/6/2018, tức là các bên không tranh chấp hợp đồng nữa nên việc Công ty V khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà T1 phải thanh toán khoản tiền nợ nêu trên được xác định là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Lập luận này đã được Tòa án nhân dân tối cao thừa nhận tại Quyết định giám đốc thẩm số 13/2022/KDTM-GĐT ngày 12/12/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi giải quyết vụ án có tình huống pháp lý tương tự.

[2] Về thẩm quyền: bị đơn có nơi cư trú tại phường A, thành phố M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[3] Công ty V yêu cầu bà Trần Kim T1 trả số tiền nợ là 108.000.000 đồng. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là giấy xác nhận ngày 01/6/2018. Xét thấy, bà T1 cho rằng bà đã trả tiền cho công ty V từ năm 2016 tuy nhiên ngày 01/6/2018 bà lại ký xác nhận còn nợ công ty V số tiền 108.000.000 đồng và cam kết đến ngày 01/6/2019 sẽ thanh toán hết số tiền trên, qua đó cho thấy thời điểm năm 2018 thì bà T1 xác định vẫn còn nghĩa vụ trả nợ với công ty V. Bà T1 trình bày khi tìm được sổ sách bà có gặp công ty V để đối chiếu lại và xác định bà không còn nợ công ty V, tuy nhiên bà T1 không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, phía công ty V không thừa nhận. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định bà T1 vẫn còn nợ công ty V số tiền nợ gốc là 108.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty V, buộc bà T1 trả cho công ty V số tiền nợ gốc là 108.000.000 đồng.

[4] Công ty V yêu cầu bà T1 trả tiền lãi do chậm trả tiền từ ngày 02/6/2019 cho đến khi thi hành xong. Theo quy định tại khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Dân sự thì: “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Do đó, yêu cầu tính lãi của công ty V là có căn cứ. Số tiền lãi bà T1 phải trả cho công ty V được tính là: 108.000.000 đồng x 63 tháng x 10%/năm = 56.700.000 đồng.

[5] Về án phí: bà T1 có đơn xin miễn tiền án phí do là người cao tuổi, tuy nhiên tại thời điểm xét xử bà T1 chưa đủ 60 tuổi nên không thuộc trường hợp được miễn án phí. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 166, Điều 357 của của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn V. Buộc bà Trần Kim T1 trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn V số tiền:
    • - Nợ gốc là 108.000.000 đồng (Một trăm lẻ tám triệu đồng);
    • - Tiền lãi chậm trả là 56.700.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty trách nhiệm hữu hạn V cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Kim T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí:

    Bà Trần Kim T1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 8.235.000 đồng.

    Công ty trách nhiệm hữu hạn V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.022.000 đồng theo biên lai thu tiền số 6320 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

  4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Chi Cục THADS;
  • - Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Vĩnh Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 239/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 239/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger