Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Dũng

Bà Hoàng Thị Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 234/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm 1987, tại Thanh Hóa; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: S N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn G và bà Phạm Thị B; Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 02 chị em; Có vợ là Trần Thị H; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 17/3/2009 tại Bản án số 73/2009/HSST của TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ngày 30/11/2009 tại Bản án số 109/2009/HSST của TAND huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 08/9/2010 tại Bản án số 62/2010/HSST của TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 15/12/2010 tại Bản án số 303/2010/HSST của TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo phải chấp hành hình phạt tù theo Quyết định tổng hợp hình phạt số 01 ngày 28/02/2011 của TAND thành phố Thanh Hóa, thời gian phải chấp hành là 12 năm 03 tháng 21 ngày. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2022. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/01/2024 đến ngày 31/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Vũ Thị Tú U, sinh năm 1996
    Địa chỉ: Phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
  2. Chị Vũ Như Q1, sinh năm 1996
    HKTT: Số A L, phường T, Tp., tỉnh Thanh Hóa
    Nơi ở hiện nay: Số C L, phường T, Tp ., tỉnh Thanh Hóa;
  3. Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1996
    Địa chỉ: Số I, Đ, phường T, Tp ., tỉnh Thanh Hóa
  4. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987
    Địa chỉ: Số A D, phường Đ, Tp ., tỉnh Thanh Hóa
  5. Chị Vũ Thị Hồng N1, sinh năm 1987
    Địa chỉ: Số A Đ, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mục đích vụ lợi và không có việc làm ổn định, từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 01 năm 2024 Nguyễn Văn S đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng dưới hình thức “vay thăm” và vay tín chấp lấy lãi hàng tháng với lãi suất từ 3.333 đồng/1.000.000đ/ngày đến 4.000đ/1.000.000đ/ngày tương đương với lãi suất 122%/năm đến 146%/năm (gấp 6,1 lần đến 7,3 lần lãi suất tối đa quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự), cụ thể như sau:

  1. Từ ngày 27/12/2022 đến ngày 24/3/2023 S cho chị Vũ Như Q1 vay 03 gói vay lãi suất 4.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương với lãi suất 146%/năm), thời hạn vay mỗi gói là 50 ngày, cụ thể:
    • - Ngày 27/12/2022 S cho chị Q1 vay 5.000.000 đồng, S cắt lãi trước tổng số tiền 1.000.000 đồng, đưa cho chị Q1 4.000.000 đồng. Mỗi ngày chị Q1 trả cho S 100.000đ. Đến ngày 25/01/2023 chị Q1 trả đủ cho S 5.000.000 đồng. Số lãi đã thu là 1.000.000 đồng, trong đó thu theo quy định 20%/năm là 136.986 đồng, số tiền thu lời bất chính là 863.014 đồng.
    • - Ngày 25/01/2023 S cho chị Q1 vay 10.000.000 đồng, S cắt lãi trước tổng số tiền 2.000.000 đồng, đưa cho chị Q1 8.000.000 đồng. Mỗi ngày chị Q1 trả cho S 200.000đ. Đến ngày 15/3/2023 chị Q1 trả đủ cho S 10.000.000 đồng. Số lãi đã thu là 2.000.000 đồng, trong đó thu theo quy định 20%/năm là 273.973 đồng, số tiền thu lời bất chính là 1.726.027 đồng.
    • - Ngày 24/3/2023 S cho chị Q1 vay 10.000.000 đồng, S cắt lãi trước tổng số tiền 2.000.000 đồng, đưa cho chị Q1 8.000.000 đồng. Mỗi ngày chị Q1 trả cho S 200.000đ. Đến ngày 29/4/2023 chị Q1 trả cho S 7.200.000 đồng, nợ lại gốc 2.800.000 đồng. Số lãi đã thu là 2.000.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20%/năm là 273.973 đồng, số tiền thu lời bất chính là 1.726.027 đồng.

    Tổng số tiền lãi S đã thu của chị Q1 là 5.000.000 đồng, trong đó số tiền thu theo định 20%/năm là 684.932 đồng, số tiền thu lời bất chính là 4.315.068 đồng.

  2. Ngày 10/01/2023 S cho chị Nguyễn Thị N vay 20.000.000đ hình thức vay tín chấp, thỏa thuận thời gian trả lãi tính theo tháng (01 tháng là 30 ngày), lãi 2.000.000đ/tháng tương ứng với lãi suất 3.333 đồng/1.000.000đ/ngày tương đương mức lãi suất 121%/năm. Số tiền lãi S nhằm thu là 24.000.000đồng, trong đó lãi theo quy định 20%/năm là 3.945.205 đồng, số tiền S nhằm thu lợi bất chính với gói vay trên là 20.054.795 đồng. Chị N đã trả cho S số tiền lãi 4.500.000 đồng, trong đó trong đó lãi theo quy định 20%/năm là 739.725 đồng, số tiền thu lời bất chính đã thu là 3.760.275 đồng. Hiện chị N còn nợ S 20.000.000 đồng tiền gốc và 19.500.000 đồng tiền lãi.
  3. Ngày 15/01/2023 và ngày 30/3/2023 S cho chị Vũ Thị Tú U vay 02 gói vay lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương lãi suất 146%/năm); thời hạn vay 50 ngày, cụ thể:
    • - Ngày 15/01/2023 S cho chị U vay 10.000.000đồng, cắt lãi trước số tiền 2.000.000 đồng, đưa cho chị U 8.000.000 đồng. mỗi ngày chị U trả cho S 200.000đ. Đến 05/3/2023 chị U trả đủ cho S 10.000.000 đồng. Số lãi S thu của chị U là 2.000.000 đồng, trong đó số tiền thu theo quy định 20%/năm là 273.973 đồng, số tiền thu lời bất chính là 1.726.027 đồng.
    • - Ngày 30/3/2023 S cho chị U vay 15.000.000đồng, cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng, đưa cho chị U 12.000.000 đồng, mỗi ngày chị U trả cho S 300.000đ. Đến 06/4/2023 xác định số tiền chị U đã trả cho S là 2.200.000 đồng, chị U còn nợ tiền gốc 12.800.000đồng. Số tiền lãi đã thu là 3.000.000đ, trong đó số tiền theo quy định 20%/năm là 410.959 đồng, số tiền thu lời bất chính là 2.589.041 đồng.

    Tổng số tiền lãi S đã thu của chị U là 5.000.000 đồng, trong đó tiền thu theo quy định là 684.932 đồng, đã thu lời bất chính từ việc cho chị U vay được xác định là 4.315.068 đồng.

  4. Ngày 25/01/2023 và ngày 25/3/2023 S cho chị Nguyễn Thị Thu T vay 02 gói mỗi gói 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000đ/1.000.000đ/ngày tương đương mức lãi suất 146%/năm, thời hạn vay 50 ngày. S cắt trước mỗi gói vay 2.000.000đ, đưa cho T 8.000.000đồng,. Ngày 13/5/2023 chị T đã trả đủ tiền gốc cho S. Tổng số tiền lãi đã thu được là 4.000.000đồng. Số tiền thu lợi theo quy định 20%/năm là 547.946 đồng, số tiền thu lời bất chính là 3.452.054 đồng.
  5. Ngày 01/02/2023 S cho Chị Vũ Thị Hồng N1 vay 5.000.000đồng, lãi suất 4.000đ/1.000.000đ/ngày tương đương mức lãi suất 146%/năm, thời hạn vay 50 ngày. S cắt trước mỗi gói vay 1.000.000đ, đưa cho N1 4.000.000đồng. Đến 10/2/2023 chị N1 thanh toán được 10 ngày số tiền 1.000.000 đồng còn nợ 4.000.000đ tiền gốc. Lãi thu theo quy định 20% là 136.986 đồng; Số tiền thu lợi bất chính là 863.014 đồng.

Tổng cộng số tiền cho vay là 100.000.000 đồng trong đó thực tế S sử dụng là 60.000.000đồng tiền gốc cho khách vay. Số tiền gốc đã thu được là 20.400.000 đồng, số tiền gốc chưa thu được là 39.600.000 đồng. Tổng số tiền lãi nhằm thu được là 39.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi nhằm thu theo quy định tại Điều 468 BLDS 20%/năm là 6.000.001 đồng, số tiền lãi nhằm thu lợi bất chính là 32.999.999 đồng. Số tiền lãi S đã thu được là 19.500.000 đồng, trong đó số tiền lãi đã thu theo quy định 20%/năm là 2.805.481 đồng, số tiền thu lợi bất chính đã thu được là 16.705.479 đồng. Số tiền cho vay do S tích lũy mà có.

Ngày 10/01/2024 Cơ quan CSĐT công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của S thu giữ số tiền 380.000.000 đồng. S khai là tiền của Chị Nguyễn Thị H1 (chị gái S) nhờ vợ chồng S cất giữ hộ.

Việc thu giữ đồ vật, tài liêu, xử lý vật chứng:

  • - S sử dụng điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 gắn sim số 0916561987 để liên lạc cho vay và nhắc khách trả tiền, 01 sổ tay để theo dõi các khoản vay, S đã làm mất chiếc điện thoại gắn sim, quyển sổ tay nên không thu giữ được.
  • - Đối với số tiền 380.000.000 đồng Cơ quan CSĐT đã trả cho chị Nguyễn Thị H1 là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - Đối với giấy vay tiền, người vay là chị Q1, U, T, N, N1 thu giữ từ S kèm theo hồ sơ vụ án.

Về dân sự:

Các khách vay không có yêu cầu, đề nghị gì về việc được nhận lại số tiền lãi suất vượt quá theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 164/CT-VKSTPTH ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn Sơn về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn S. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36; Điều 48 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức án từ: 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ trừ đi thời gian tạm giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo mức từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ số tiền dùng vào việc phạm tội theo quy định của bị cáo và các khách vay chưa trả. Tịch thu số tiền lãi thu lợi phát sinh từ tội phạm của bị cáo.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải trả lại số tiền thu lời bất chính đối với những người vay tiền là: 16.705.479 đồng (Số tiền bị cáo đã thu). Tuy nhiên, bị cáo đã khắc phục tất cả người vay và những người vay đều không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên không xem xét.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo luật định

Bị cáo Nguyễn Văn S không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do có mục đích vụ lợi nên từ tháng 12/2022 đến ngày 10/01/2024 Nguyễn Văn S đã cho nhiều lượt người trên địa bàn T vay tiền lấy lãi với lãi suất 3.000 đồng đến 4.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương với mức lãi suất từ 122%/năm đến 146%/năm (gấp 6,1 lần đến 7,3 lần lãi suất tối đa quy định tại Điều 468 BLDS).

Tổng số tiền lãi nhằm thu là: 39.000.000đ trong đó số tiền lãi nhằm thu theo quy định tại Điều 468 BLDS 20%/năm là 6.000.001 đồng, số tiền lãi nhằm thu lợi bất chính là 32.999.999 đồng.

Số tiền lãi S đã thu được là 19.500.000 đồng, trong đó số tiền lãi đã thu theo quy định 20%/năm là 2.805.481 đồng, số tiền thu lợi bất chính đã thu được là 16.705.479 đồng. Số tiền cho vay do S tích lũy mà có.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn S phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tài sản. Mặc dù bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi cho vay tiền để hưởng số tiền lãi vượt quá lãi suất mà pháp luật quy định. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo cũng như giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo bị xử phạt cải tạo không giam giữ phải bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 04 tiền án, đã tái phạm theo bản án số 62/2010/HSST ngày 08/9/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả; quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số tiền gốc là khoản tiền bị cáo sử dụng cho vay là phương tiện phạm tội, người vay chưa trả đủ lại cho bị cáo. Nên cần tịch thu sung quỹ số tiền gốc: Tổng số tiền gốc thu từ bị cáo S là 20.400.000 đồng
  • Gốc thu từ chị Vũ Như Q1: 2.800.000; chị Nguyễn Thị N: 20.000.000; chị Vũ Thị Tú U: 12.800.000; chị Vũ Thị Hồng N1 : 4.000.000 đồng
  • - Đối với số tiền lãi 20%/năm mà bị cáo thu lợi phát sinh từ tội phạm là 2.805.481 đồng cần tịch thu tại bị cáo để sung vào Ngân sách Nhà nước;
  • Tổng số tiền tịch thu từ bị cáo là: 23.205.000 đồng (làm tròn)
  • - Đối với số tiền lãi suất trên mức lãi suất theo quy định 20%/năm mà bị cáo thu lợi bất chính từ người vay là: 16.705.479 đồng nên buộc bị cáo trả lại cho những người vay; tuy nhiên, trước khi xét xử bị cáo đã khắc phục xong cho tất cả những vay và người vay không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên HĐXX chấp nhận.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với số tiền 380.000.000 đồng Cơ quan CSĐT đã xác định là tiền cá nhân của chị Nguyễn Thị H1 gửi vợ chồng bị cáo S cất giữ hộ nên đã trả lại cho chị H1 là phù hợp.

Ngoài ra Ngày 30/9/2022 S cho chị T vay 10.000.000đ bằng hình thức vay thăm, đến ngày 18/11/2022 chị T đx thành toán hết số tiền gốc cho S. Tính đến thời điểm phát hiện tội phạm đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính và số tiền thu lời bất chính dưới mức quy định theo NQ01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TANDTC nên không có căn cứ xử lý.

Ngoài ra S khai cho chị Nguyễn Thị Trà M vay 10.000.000 đồng và anh Nguyễn Trọng H2 vay 10.000.000 đồng. Quá trình điều tra, xác minh chị M và anh H2 không có mặt tại nơi cư trú, các tài liệu chứng cứ chưa đủ xác định số tiền vay, lãi suất, số tiền thu lời bất chính nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1, 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36; Điều 47; Điều 48 của BLHS; Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi 18 ngày (do đã tạm giữ bị cáo 06 ngày, từ ngày 25/01/2024 đến 31/01/2024). Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại bị cáo phải chấp hành là 11 tháng 12 ngày.

Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

  • * Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn S.
  • * Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn S 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
  • * Về biện pháp tư pháp:
    • - Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 23.205.000 đồng (làm tròn)
    • - Tịch thu số tiền gốc người vay chưa trả cho S, cụ thể: Vũ Như Q1: 2.800.000; chị Nguyễn Thị N: 20.000.000; chị Vũ Thị Tú U: 12.800.000; chị Vũ Thị Hồng N1 : 4.000.000 đồng

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi tương ứng đối với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán, theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố ThanhHóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS thành phố ThanhHóa;
  • - Công an thành phố ThanhHóa;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Thị Khánh Tân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Dũng

Hoàng Thị Hạnh

Ninh Thị Khánh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 238/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 238/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGuyễn Văn S cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger