|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 238/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-8-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến
Bà Nguyễn Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐ-ST ngày 26/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 141/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/7/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh ngày 03/02/1995 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể.
Chị H ủy quyền cho chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giao nhận các tài liệu với Tòa án (văn bản ủy quyền ngày 20/5/2024, không triệu tập).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Sỹ H1, sinh ngày 18/5/1991 (vắng mặt)
Nơi thường trú và địa chỉ cuối cùng của anh H1 ở Việt Nam: thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Tống Thị H2, sinh ngày 12/7/1971 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị, anh H1 được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 04/01/2013 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh H1 làm dâu và chung sống hòa thuận. Anh chị chung sống hòa thuận đến đầu năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Khoảng cuối năm 2018 anh H1 đi lao động tại Nhật Bản. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Chị đã nhiều lần cố gắng vì con mà tiếp tục cuộc hôn nhân này nhưng càng cố gắng bao nhiêu thì anh H1 lại càng không thay đổi bấy nhiêu. Kể từ năm 2021 đến nay chị và anh H1 không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Sỹ H1.
Về con chung: Chị và anh H1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/01/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Bảo C, sinh ngày 11/11/2015. Hiện cả hai cháu đang ở với bà nội là bà Tống Thị H2, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng vì lý do công việc chị đang lao động tại nước ngoài nên đề nghị Tòa án tạm giao cho bà Tống Thị H2 chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, do điều kiện công việc bận chị không đến làm việc với Tòa án được nên chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chị ủy quyền cho chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giao nhận các tài liệu với Tòa án.
Anh Nguyễn Sỹ H1 là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 24/5/2024 và ngày 05/6/2024, bà Tống Thị H2 là mẹ đẻ anh Nguyễn Sỹ H1 cung cấp: anh H1 hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Về hôn nhân: Anh H1, chị H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị H về nhà bà làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Đến đầu năm 2021 thì vợ chồng anh, chị phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh chị nói là do bất đồng quan điểm sống. Khoảng cuối năm 2018 anh H1 đi lao động tại Nhật Bản. Bà có khuyên bảo anh, chị về ở với nhau để chăm sóc con cái nhưng không được. Anh, chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/01/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Bảo C, sinh ngày 11/11/2015. Hiện cả hai cháu đang ở cùng bà. Tài sản, công nợ chung của anh, chị thì bà không rõ. Về việc chị H yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng thì bà không đồng ý. Bà đề nghị Tòa án giao cả hai con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M và cháu Nguyễn Sỹ Bảo C cho anh H1 chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H1 ở nước ngoài. Bà xác định việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M và cháu C là quyền cũng như nghĩa vụ của ông bà đối với con cháu nên không yêu cầu chị H, anh H1 phải trích trả bà công sức chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu.
Tại biên bản làm việc ngày 24/5/2024, cháu Nguyễn Thị Trà M và cháu Nguyễn Sỹ Bảo C trình bày: Hiện tại hai cháu đang sống cùng bà nội là bà Tống Thị H2 tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Các cháu được bà chăm sóc chu đáo cả về vật chất và tinh thần, được bà cho ăn uống, học hành đầy đủ. Nếu bố mẹ ly hôn, các cháu muốn được ở với bố và bà nội.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Lê Thị H, bà Tống Thị H2 vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Sỹ H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Lê Thị H; Biên bản làm việc với bà Tống Thị H2 là mẹ của anh Nguyễn Sỹ H1; Biên bản làm việc với cháu Nguyễn Thị Trà M, cháu Nguyễn Sỹ Bảo C và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Lê Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tống Thị H2 xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Sỹ H1 không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.
Xử cho chị Lê Thị H ly hôn anh Nguyễn Sỹ H1.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/01/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Bảo C, sinh ngày 11/11/2015 cho anh Nguyễn Sỹ H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu M, cháu C cho bà Tống Thị H2 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H1 ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: chị H không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lê Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Sỹ H1 và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Theo Công văn trả lời số 11597/QLXNC-P3 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 05/6/2024 của Cục Q - Bộ C1 cung cấp, chị Lê Thị H có 05 lượt xuất nhập cảnh, lần gần nhất xuất cảnh ngày 20/5/2024 hiện chưa cho thông tin nhập cảnh; anh Nguyễn Sỹ H1 có 03 lượt xuất nhập cảnh, lần gần nhất xuất cảnh ngày 27/6/2023, hiện chưa có thông tin nhập. Mặt khác, anh H1 là bị đơn hiện có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có cả nguyên đơn, bị đơn đang ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt các đương sự:
Đối với nguyên đơn chị Lê Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tống Thị H2 xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Lê Thị H và bà Tống Thị H2.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Sỹ H1: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn chị H, bà H2 là mẹ anh H1, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh H1 trước khi xuất cảnh lần gần nhất là thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh H1 thông qua bà H2 và đề nghị bà H2 thông báo cho anh H1 biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Lê Thị H và bị đơn là anh Nguyễn Sỹ H1. Bà H2 cho biết anh H1 vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh H1 không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh H1 tại Nhật Bản. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Sỹ H1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 04/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh H1 phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Nguyễn Sỹ H1.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị H với anh Nguyễn Sỹ H1. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H và anh H1 chung sống với nhau hòa thuận. Khoảng cuối năm 2018 anh H1 đi lao động tại Nhật Bản. Sau một thời gian đến đầu năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng. Trong thời gian mâu thuẫn anh H1, chị H có nhiều lần nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng do bất đồng quá lớn nên không có kết quả. Chị H xác định kể từ năm 2021 đến nay vợ chồng không còn liên lạc hỏi thăm nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Mặt khác mẹ anh H1 là bà H2 cũng cung cấp anh H1, chị H có mâu thuẫn bà có khuyên bảo nhưng anh chị không về với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh H1, chị H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Sỹ H1 là có căn cứ và phù hợp tình trạng hôn nhân thực tế cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5]. Về nuôi con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/01/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Bảo C, sinh ngày 11/11/2015. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng bà Tống Thị H2 (là mẹ anh H1). Sau khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, nhưng tạm giao cho bà nội chăm sóc đến khi chị H về Việt Nam. Các cháu M và cháu C có nguyện vọng được ở cùng bố và bà nội
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H: Hội đồng xét xử thấy hiện nay cả chị H và anh H1 đang lao động ở nước ngoài do vậy không thể trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Tuy nhiên, kể từ khi chị H, anh H1 đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài đến nay bà Tống Thị H2 là mẹ anh H1 vẫn là người trực triếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu M và cháu C, các cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Cháu M, cháu C trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng được sống cùng bố và bà nội nếu bố, mẹ ly hôn. Vì vậy, căn cứ vào điều kiện thực tế và để đảm bảo quyền lợi ích mọi mặt của cháu M, cháu C cũng như nguyện vọng của các con chung. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình. Không chấp nhận đề nghị của chị H giao con chung cho chị H nuôi dưỡng và tạm giao cháu M và cháu C cho bà H2 nuôi dưỡng trong thời gian chị H ở nước ngoài mà cần giao cho anh Nguyễn Sỹ H1 nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/01/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Bảo C, sinh ngày 11/11/2015 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật sau khi ly hôn. Do hiện nay anh H1 đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu M và cháu C cho bà Tống Thị H2 nuôi dưỡng cho đến khi anh Nguyễn Sỹ H1 về Việt Nam sinh sống là phù hợp điều kiện thực tế cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn chị Lê Thị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp chị Lê Thị H có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị H, anh Nguyễn Sỹ H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Tống Thị H2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị H ly hôn anh Nguyễn Sỹ H1.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/01/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Bảo C, sinh ngày 11/11/2015 cho anh Nguyễn Sỹ H1 nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Nguyễn Thị Trà M và cháu Nguyễn Sỹ Bảo C cho bà Tống Thị H2 nuôi dưỡng cho đến khi anh Nguyễn Sỹ H1 về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn. Chị Lê Thị H không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001207 ngày 23/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Lê Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo bản án: Chị Lê Thị H, anh Nguyễn Sỹ H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Bà Tống Thị H2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 238/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 238/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị H và anh H
