|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 238/2024/DS – ST Ngày: 26 – 7 – 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
– Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Hoàng Mai
- Ông Trần Thanh Việt.
– Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án.
– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thụ lý số 252/2024/TLST – DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 389/2024/QĐXXST – DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 395/2024/QĐST – DS ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Mỹ T, sinh năm 1968
- Bị đơn: Bà Lâm Thị Ngọc C, sinh năm 1984
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Phước Q, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số A, đường P, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Quang A – Thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A.
Địa chỉ: Số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, có mặt bà Bùi Thị Mỹ T, Luật sư Trần Quang A; bà Lâm Thị Ngọc C và ông Mai Phước Q vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn là bà Bùi Thị Mỹ T trình bày:
Bà và ông Q, bà C có quan hệ bạn bè lâu năm. Khoảng tháng 12 năm 2022, do cần tiền để xây dựng nhà cho mẹ của ông Q nên bà C có hỏi vay bà số tiền 250.000.000 đồng. Bà đã giao trực tiếp cho bà C đủ 250.000.000 đồng. Việc giao tiền này, bà C không ghi biên nhận nhận tiền và cam kết trả trong vòng một hoặc hai tháng, thỏa thuận lãi 2%/tháng. Bà C chưa nộp lãi lần nào cho bà. Đến khoảng tháng 02 năm 2023, bà C có hỏi mượn thêm 210.000.000 đồng và bà đã giao đủ cho bà C. Lãi suất thỏa thuận 2%/tháng, cam kết trả lại trong thời hạn 03 tháng. Tuy nhiên, do bà C không nộp lãi đúng hẹn nên bà có yêu cầu bà C viết Biên nhận mượn tiền. Bà C viết giấy mượn của bà tổng cộng là 460.000.000 đồng theo Biên nhận mượn tiền ngày 02/4/2023. Tại biên nhận mượn tiền này, bà C ghi rõ bà và chồng là ông Q mượn số tiền 460.000.000 đồng, tiếp tục hứa trả trong vòng 03 tháng và trả lãi là 2%/tháng. Bà C, ông Q không có thế chấp tài sản gì để bảo đảm nghĩa vụ. Tuy nhiên, bà C tiếp tục trả vốn, lãi đúng hẹn nên bà có đến nhà tìm gặp bà C và ông Q để yêu cầu trả nợ. Bà C và ông Q trực tiếp hứa hẹn sắp xếp trả vốn lãi cho bà trong vài ngày. Sau đó, ông Q có trả cho bà được 02 lần, mỗi lần là 100.000.000 đồng, tổng cộng ông Q trả cho bà được 200.000.000 đồng. Ngoài ra, ông Q có trả cho bà 5.200.000 đồng tiền lãi của tháng 7/2023 và 5.200.000 đồng của tháng 8/2023. Như vậy, ông Q, bà C trả được 10.400.000 đồng tiền lãi và còn nợ lại tiền vốn là 260.000.000 đồng.
Thời gian qua, bà nhiều lần gặp ông Q và bà C yêu cầu trả nợ, ông Q và bà C có hứa hẹn bán nhà sẽ thanh toán nhưng khi bán nhà rồi vẫn không trả nợ. Do đó, bà yêu cầu bà C và ông Q liên đới trả cho bà 260.000.000 đồng tiền vốn còn nợ và trả lãi trong hạn từ ngày 03/4/2023 đến ngày 02/7/2023 của số tiền 460.000.000 đồng, trả lãi quá hạn từ ngày 03/7/2023 đến ngày thanh toán hết số tiền còn nợ. Bà đồng ý tính lãi theo mức lãi suất của pháp luật quy định, lãi trong hạn là 10%/năm và lãi quá hạn là 15%/năm.
Luật sư Trần Quang A phát biểu tranh luận tại phiên toà: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Biên nhận mượn tiền ngày 02/4/2023 để xem xét yêu cầu của bà T. Biên nhận này thể hiện rõ bà C và chồng là ông Q có mượn của bà T số tiền là 460.000.000 đồng, do ông Q đã trả được 200.000.000 đồng nên bà T yêu cầu vợ chồng họ trả lại tiền vốn còn lại là 260.000.000 đồng. Bà T yêu cầu tính lãi do bên bà C và ông Q chậm thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu này là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thư ký, Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của BLTTDS. Bà T, ông Q không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS, vắng mặt trong quá trình Tòa án chuẩn bị xét xử và vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C và ông Q là phù hợp với khoản 2 Điều 227 của BLTTDS.
Về nội dung: Căn cứ Biên nhận mượn tiền ngày 02/4/2023 là có cơ sở để xác định giữa nguyên đơn và bị đơn xác lập giao dịch dân sự là hợp đồng vay tài sản có thời hạn và có lãi theo quy định tại Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (viết tắt BLDS 2015). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả phần vốn còn lại là 260.000.000 đồng. Đối với yêu cầu trả lãi, nguyên đơn đồng ý tính lãi trong hạn và quá hạn theo quy định của pháp luật, căn cứ Điều 466 và 468 của BLDS 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này. Đối với yêu cầu ông Q liên đới nghĩa vụ trả nợ, qua lời trình bày của nguyên đơn về việc thời gian qua, ông Q là người trực tiếp thương lượng và trả vốn, lãi cho bà T. Đồng thời, ông Q không có văn bản trình bày ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Q phải có nghĩa vụ liên đới với bà C trả tiền vốn và lãi cho bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
- Căn cứ vào kết quả xác minh tình trạng cư trú của Công an phường B ngày 22/5/2024 là đủ cơ sở để xác định ông Mai Phước Q có nơi cư trú hợp pháp tại địa chỉ số A, khóm B, phường B, thành phố L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng theo quy định của các Điều 177 của BLTTDS cho bà C, ông Q. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà C và ông Q tiếp tục vắng mặt lần thứ 2, không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà C và ông Q.
- Tại phiên tòa, bà T yêu cầu bà C và ông Q trả cho bà lãi trong hạn của tiền vay 460.000.000 đồng và lãi quá hạn của tiền vốn vay còn nợ là 260.000.000 đồng. Như vậy, bà T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Do việc thay đổi này nằm trong phạm vi khởi kiện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung:
- Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là bản chính Biên nhận mượn tiền ngày 02/4/2023 với nội dung bà Lâm Thị Ngọc C cùng chồng là ông Mai Phước Q mượn của bà Mỹ T là 460.000.000 đồng, thời gian trả lại tiền là trong 03 tháng kể từ ngày 02/4/2022 đến ngày 02/7/2023.
- Qua kết quả xác minh tình trạng cư trú của ông Q thể hiện ông vẫn còn cư trú tại địa phương. Phía bà C là người trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và nhận thay, cam kết giao lại cho ông Q các văn bản này. Như vậy, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định ông Q biết được Tòa án đang thụ lý yêu cầu khởi kiện của bà T. Tuy nhiên, bà C và ông Q không đến tham gia phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng và phiên hòa giải, không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, bà C và ông Q đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại các Điều 70, Điều 72, 73 của BLTTDS và phải chịu hậu quả pháp lý cho hành vi này. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của bà T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét, giải quyết.
- Căn cứ vào Biên nhận mượn tiền ngày 02/4/2023 là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa bà T và bà C tự nguyện xác lập giao dịch dân sự là hợp đồng vay tài sản có thời hạn và có lãi. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 465, 466, 470 của BLDS 2015 để xem xét, giải quyết. Xét thấy, việc bà C không thanh toán tiền vốn lãi khi hết thời hạn vay là vi phạm nghĩa vụ của bên vay, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp của bên cho vay. Do đó, căn cứ Điều 466, Điều 470 của BLDS 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà C phải có nghĩa vụ trả tiền vốn còn nợ là 260.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh cho bà T.
- Về nghĩa vụ liên đới: Xét thấy, mặc dù ông Q không có ký tên vào Biên nhận mượn tiền ngày 02/4/2024. Tuy nhiên, bà T cho rằng quá trình thực hiện nghĩa vụ, ông Q có trực tiếp trả vốn là 200.000.000 đồng và lãi là 10.400.000 đồng. Như vậy, ông Q biết được bà C có xác lập giao dịch dân sự vay tài sản và ông không phản đối đối với giao dịch dân sự này. Như vậy, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, số tiền vay của bà T là nghĩa vụ chung của của vợ chồng. Do đó, căn cứ Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử buộc ông Q phải có trách nhiệm liên đới trả tiền vốn vay và tiền lãi phát sinh cho bà T theo Biên nhận mượn tiền ngày 02/4/2023.
- Về tiền lãi: xét thấy phía nguyên đơn yêu cầu trả lãi trong hạn đối với tiền vốn vay 460.000.000 đồng tính từ ngày 02/4/2023 đến ngày 02/7/2023 và lãi quá hạn đối với tiền vốn vay 260.000.000 đồng ngày 03/7/2023. Xét thấy, do không có cơ sở để xác định rõ mức lãi suất thỏa thuận nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 468 và khoản 5 Điều 466 của BLDS để xem xét, giải quyết yêu cầu trả lãi.
Số tiền lãi mà bà C và ông Q phải trả cho bà T được tính như sau:
- Tiền lãi trong hạn của số tiền 460.000.000 đồng:
460.000.000 ₫ x 10%/năm x 02 tháng = 7.663.600 đồng.
- Tiền lãi quá hạn của số tiền 260.000.000 đồng từ ngày 03/7/2023 đến ngày xét xử:
260.000.000 đồng x 15%/năm/365ngày x 01 năm 13 ngày = 40.389.000 đ.
Tổng tiền lãi là: 48.052.600 đồng.
Do ông Q, bà C đã trả được 10.400.000 đồng nên ông Q và bà C còn phải trả lãi là 37.652.600 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn không phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.585.500 (bảy triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm) đồng theo biên lai thu số 0001961 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí là 14.882.600 (mười bốn triệu tám trăm tám mươi hai nghìn sáu trăm) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 288, 463, 465, 466, 470, 468 và 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Bùi Thị Mỹ T.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Buộc bà Lâm Thị Ngọc C và ông Mai Phước Q phải có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị Mỹ T tổng số tiền là 297.652.600 (hai trăm chín mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm) đồng. Trong đó bao gồm, tiền vốn còn nợ 260.000.000 đồng (theo Biên nhận mượn tiền ngày 02/4/2023) và tiền lãi còn nợ tính đến ngày 26/7/2024 là 37.652.600 đồng.
Kể từ ngày 27/7/2024, cho đến khi trả hết số tiền trên, bà C và ông Q còn phải chịu lãi của số tiền còn nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn là 15%/năm.
Bà T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.585.500 (bảy triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm) đồng theo biên lai thu số 0001961 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Bà C và ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 14.882.600 (mười bốn triệu tám trăm tám mươi hai nghìn sáu trăm) đồng.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích theo Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 238/2024/DS – ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 238/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: châp nhận yêu cầu
