Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG MÃ

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2024/HS - ST

Ngày 23 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ pH toà: Bà Hoàng Thị Nhung.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện, Ông Trần Thành Vân.
  • Thư ký pH toà: Bà Hà Thị Điệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia pH toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 242/2024/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2024/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn pH toà số 227/2024/HPT – HS ngày 19 tháng 8 năm 2014 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn H - Sinh năm 1977; Nơi cư trú: Bản D1, xã D2, huyện D, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lò Văn K (đã chết) và con bà Lò Thị M; Bị cáo có vợ là Quàng Thị T và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 04/5/1995 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 155 Bộ luật Hình sự.
  • Ngày 22/01/1998 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Sơn La xử phạt 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 155 Bộ luật Hình sự.
  • Ngày 27/12/2000 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Sơn La xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
  • Ngày 27/7/2009 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Sơn La xử phạt 54 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
  • Ngày 22/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Sơn La phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
  • Ngày 30/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Sơn La ra Quyết định Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 07/5/2024 cho đến nay có mặt tại pH tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quàng Thị T, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Bản D, xã D, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại pH tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 10 phút, ngày 28/4/2024 Tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại khu vực bản T2, xã L, huyện D phát hiện Lò Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ từ trong túi quần bên trái đang mặc của H một gói nilon bên trong có chứa cục bột liên kết màu trắng (H khai nhận là Heroine), Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA có biển kiểm soát 99L5 – 7216.

Ngày 28/4/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy, kết quả: Chất bột liên kết màu trắng có tổng khối lượng 0,14 gam, trích toàn bộ 0,14 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H.

Kết luận giám định số 997 ngày 02/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

  • Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam.
  • Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn H khai nhận: Khoảng 08 giờ, ngày 27/4/2024 Lò Văn H mang theo số tiền 200.000đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 99L5 – 7216 đi từ nhà ở đến bản P, xã C2, huyện V, tỉnh Sơn La để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến bản P thì H gặp người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi trên đường, H đã hỏi mua được một gói Heroine từ người đàn ông này với số tiền 200.000đ. Mua ma túy xong H điều khiển xe quay

về, trên đường về H dừng xe đi vào bụi cây ven đường trích một ít Heroine ra sử dụng bằng hình thức chích qua tĩnh mạch vào cơ thể. Sử dụng xong H vứt bơm kim tiêm ngay tại đấy rồi gói số ma tuý còn lại như lúc đầu cất giấu vào trong túi quần đang mặc và tiếp tục đi về. Khi H về đến khu vực chợ T2, xã L, huyện D thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện D kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 187/CT-VKSSM ngày 17 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Tại pH toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 01 năm 06 tháng – 02 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 01 chiếc xe mô tô có biển kiểm soát 99L5 – 7216. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại pH tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị là vợ của bị cáo H, chiếc xe mô tô có biển kiểm soát 99L5 – 7216 thu giữ trong vụ án là tài sản chung của vợ chồng mua lại xe cũ từ người bán đồng nát qua đường và cũng không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Khi bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy chị không hay biết. Nay chị đề nghị được xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại.

Tại pH tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại pH tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại pH tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

  • Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 08 giờ 10 phút, ngày 28/4/2024 đối với Lò Văn H cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilon bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng. Kết luận giám định số 997/KL-KTHS ngày 02/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam, loại Heroine (Heroin)...".
  • Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại pH tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại pH tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/4/2024 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,14 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.

Như vậy, nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật

[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại pH toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân rất xấu, đã từng bị kết án nhiều lần, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để giáo dục bản thân trở thành người lượng thiện mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội mới, cho thấy ý thức chấp hành pháp luật kém và tính khó giáo dục cải tạo của bị cáo.

[4] Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để

đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc mô tô có biển kiểm soát 99L5 – 7216 xác định được là tài sản hợp pháp của vợ chồng bị cáo, khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội chị Tươi không biết và có đề nghị HĐXX xem xét trả lại xe nên cần chấp nhận.

[7] Vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Về người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 0003808.

    Trả lại 01 xe mô tô có biển kiểm soát 99L5 – 7216 cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

    Theo Quyết định chuyển vật chứng số 176/QĐ – VKS ngày 17/7/2024 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/7/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Sông Mã;
  • - Công an huyện Sông Mã;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự;
  • - CCTHA Dân sự;
  • - Sở TP;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,VNLQ;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PH TÒA

Hoàng Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 238/2024/HS - ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 238/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger