Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 238/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19 tháng 11 năm 2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân và bà Huỳnh Thị Thể Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 106/2025/TLST- HNGĐ, ngày 01/10/2025 tranh chấp Hôn nhân và gia đình về “ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: tổ D, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (Nơi cư trú hiện tại: tổ D, ấp P, xã P, tỉnh An Giang). Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 24/4/2024, Số điện thoại: 0946.469.xxx (đề nghị vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Phạm Thành T1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: tổ D, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (Nơi cư trú hiện tại: tổ D, ấp P, xã P, tỉnh An Giang). Số căn cước công dân: [...], ngày 24/4/2022, Số điện thoại: 0913.361.xxx (đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tiền hành giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé T và bị đơn anh Phạm Thành T1 cùng thống nhất lời trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Trước đây anh chị quen biết nhau một thời gian, được cha mẹ hai bên đồng ý tiến tới hôn nhân vào năm 2011 và có tổ chức lễ cưới, không có đăng ký kết hôn tại UBND xã theo quy định pháp luật cho đến nay, với lý do không am hiểu về pháp luật. Anh chị thừa nhận có chung sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn với nhau. Lý do: vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, cư xử cãi nhiều lần trong sinh hoạt, không có tiếng nói chung và chính thức ly thân từ tháng 5 năm 2025 cho đến nay. Do thời gian dài không hàn gắn chung sống lại với nhau được, nay anh chị cũng thống nhất tự nguyện thuận tình ly hôn với nhau, đề nghị Tòa án ghi nhận sự thuận tình ly hôn theo quy định.

- Về quan hệ con chung: quá trình chung sống anh chị thống nhất có 01 người con chung tên Phạm Thị Kim N, sinh ngày 31/01/2012 hiện đang chung sống với chị Nguyễn Thị Bé T. Chị Nguyễn Thị Bé T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành hoặc tự lập được và không yêu cầu anh Phạm Thành T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định. Anh Phạm Thành T1 cũng đồng ý giao con chung cho chị Nguyễn Thị Bé T được tiếp tục nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ phải thu phải trả: anh chị khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Bé T và anh Phạm Thành T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do các bên đã thống nhất toàn bộ giải quyết vụ án, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về hình thức, thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Bé T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về “ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Anh Phạm Thành T1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: tổ D, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (Nơi cư trú hiện tại: tổ D, ấp P, xã P, tỉnh An Giang) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

[1.3]. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Bé T và anh Phạm Thành T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh T1.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé T và anh Phạm Thành T1 chung sống với nhau thời gian dài nhưng không đăng ký kết hôn quy định là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch”, “Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...” và điểm c khoản 3 Nghị Quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội quy định kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết nầy, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng.....” theo quy định. Như vậy, hôn nhân của anh chị không được pháp luật bảo vệ và tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị Bé T và anh Phạm Thành T1 là quan hệ vợ chồng.

[2.2] Về quan hệ con chung: anh chị thống nhất có 01 người con chung tên Phạm Thị Kim N, sinh ngày 31/01/2012 hiện đang chung sống với chị Nguyễn Thị Bé T. Chị T và anh T1 thống nhất giao cháu Phạm Thị Kim N cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng và chị T tự nguyên không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của anh chị theo quy định.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ phải thu phải trả: Chị Nguyễn Thị Bé T và anh Phạm Thành T1 thống nhất khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét, nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ, chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[3]. Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thị Bé T cũng đồng ý chịu án phí thay cho anh T1 nên chị T phải chịu án phí theo quy định.

[4] Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Bé T và anh Phạm Thành T1 có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 1 Điều 51; Điều 53, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 11 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Bé T và anh Phạm Thành T1.
  2. Về quan hệ con chung:
    1. Giao 01 người con chung tên Phạm Thị Kim N, sinh ngày 31/01/2012 cho chị Nguyễn Thị Bé T tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được.
    2. Anh Phạm Thành T1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
    3. Chị Nguyễn Thị Bé T trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở mà phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Phạm Thành T1 đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.
    4. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ phải thu phải trả: anh chị khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
  4. Về án phí DSST:
    1. Chị Nguyễn Thị Bé T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng mà chị T đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số: 0002500, ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
    2. Anh Phạm Thành T1 không phải chịu án phí.

Chị Nguyễn Thị Bé T và anh Phạm Thành T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -UBND xã Phú Lâm;
  • -VKSND khu vực 12;
  • -TAND tỉnh An Giang;
  • -THADS tỉnh An Giang;
  • -Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thành Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 238/2025/HNGĐ-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 238/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp Hôn nhân và gia đình về “ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger