|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 238/2024/HS-ST Ngày 29-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Phạm Thị Thanh Hiên.
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 226/2024/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 867/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Vi Văn S, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1992 tại Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi ở: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn L (đã chết) và bà Lương Thị P; có vợ là Vi Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 06/6/2024; tạm giam ngày 12/6/2024; có mặt.
- Lương Văn D, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1985 tại Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi ở: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Thái S1 (đã chết) và bà Hà Thị S2; có vợ là Lò Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 06/6/2024; tạm giam ngày 12/6/2024; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Vi Văn S: Bà Nguyễn Thị Thu T1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý thành phố H; địa chỉ: Số A L, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h45' ngày 06/6/2024, Công an phường A, quận L, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra địa bàn. Khi đến khu vực đầu ngõ A T, phường A phát hiện Lương Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37G1-131.92 chở Vi Văn S có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì S thả từ tay phải xuống đất cách chân trái của S 20cm một gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (mẫu số 01) và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 02) nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa D, S cùng vật chứng về trụ sở Công an phường A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của Lương Văn D 01 xe mô tô biển kiểm soát 37G1-131.92, thu giữ của Vi Văn S 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Realme đã qua sử dụng và số tiền 20.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 702/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng của (mẫu số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,14 gam, là loại Heroine; Tinh thể màu trắng của (mẫu số 2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,16 gam, là loại Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra, Vi Văn S và Lương Văn D khai nhận: Khoảng 12h00' ngày 06/6/2024, Lương Văn D đến gặp Vi Văn S tại nhà trọ của S và thống nhất đi mua ma túy H1 về sử dụng, D đưa S 100.000 đồng, thiếu bao nhiêu thì S bù tiền. Doãn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37G1-131.92 chở S đến khu vực đường T, quận L để mua ma túy. Tại đây, cả hai gặp 01 nam giới không quen biết thỏa thuận mua ma túy Heroine. Sau đó, D điều khiển xe mô tô chở S đi theo nam giới này vào ngõ A T, phường A khoảng 10m thì dừng lại. S xuống xe nhận của nam giới 01 gói giấy màu trắng chứa Heroine và đưa cho nam giới 200.000 đồng. Liền lúc đó, nam giới lấy ra 01 túi nilon màu trắng và nói: “Gói đá này tao bán ba trăm”, S đáp: “Ma túy đá em không sử dụng, em chỉ chơi trắng”, nam giới nói bán 100.000 đồng thì S đồng ý mua. S nhận gói ma túy “đá” cầm trong lòng bàn tay phải lên xe D chở đi tìm chỗ sử dụng thì bị tổ công tác kiểm tra, thu giữ vật chứng tại khu vực đầu ngõ A T, phường A, thành phốHải Phòng như đã nêu trên. Quá trình S mua ma túy D đều biết, chứng kiến.
Đối với nam giới bán ma túy cho Vi Văn S, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, xử lý.
Bản Cáo trạng số 235/CT-VKSLC ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Vi Văn S, Lương Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có quan điểm: Qua xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người chứng kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố các bị can Vi Văn S, Lương Văn D theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vi Văn S với mức hình phạt từ 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn D với mức hình phạt từ 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình và bản thân các bị cáo thuộc diện có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- - Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân 01 phong bì niêm phong số 702MT/PC09 chứa ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Realme đã qua sử dụng và số tiền 20.000 đồng thu giữ của bị cáo Vi Văn S đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
- - Đối với xe mô tô biển kiểm soát 37G1-131.92, kết quả điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Lò Thị H (vợ của D), sinh năm 1985, trú tại: Bản C, xã C, xã Q, tỉnh Nghệ An. Chị H không biết D sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chị Lò Thị H, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Đối với Lương Văn D là người dân tộc thiểu số, nhưng do không phải hộ nghèo hoặc sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật, nên không thuộc diện đối tượng trợ giúp pháp lý.
Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Vi Văn S có quan điểm đồng nhất với quan điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân về tội danh, mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và xử lý vật chứng trong vụ án. Tuy nhiên, cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình của bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên mong Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng hình phạt thấp nhất do Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có điều kiện cải tạo sớm trở về xã hội và gia đình. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí do bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
[2] Xét lời khai về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người chứng kiến; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số 702/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H; các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án thể hiện: Vào khoảng 12h45' ngày 06/6/2024, tại khu vực ngõ A T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng, các bị cáo Vi Văn S và Lương Văn D đã có hành vi cất giữ trái phép 01 gói giấy bên trong chứa khối lượng 0,14 gam, là loại Heroine và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa có khối lượng 0,16 gam, là loại Methamphetamine. Như vậy, tổng khối lượng của 02 chất ma túy các bị cáo đã cất giữ là 0,3 gam, với mục đích mang về sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an phường A, quận L, thành phố Hải Phòng bắt quả tang.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố để xét xử các bị cáo Vi Văn S, Lương Văn D đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm i “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này” khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Đánh giá vai trò của các bị cáo:
[3] Đối với các bị cáo Vi Văn S, Lương Văn D được xác định có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cùng có hành vi tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng cho bản thân. Các bị cáo Vi Văn S, Lương Văn D cùng chủ động góp tiền mua, cất giấu, chở nhau đi mua ma túy và cùng chứng kiến việc S giao dịch mua ma túy, nên Hội đồng xét xử đánh giá các bị cáo Vi Văn S, Lương Văn D đồng phạm về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và có vai trò chịu trách nhiệm hình sự như nhau khi áp dụng hình phạt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Vi Văn S thuộc diện hộ nghèo tại địa phương, nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng:
[6] Xét tội phạm mà các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy với lỗi cố ý, trên cơ sở đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt theo mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Buộc các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng và trên quan điểm Viện kiểm sát đề nghị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[8] Đối với 01 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định 702MT/PC09 là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Đối với 01 điện thoại di động Realme, màu xanh đã qua sử dụng có số IMEI: 860812041994317 và số tiền 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Vi Văn S là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[10] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo Vi Văn S thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Vi Văn S được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo:
[11] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vi Văn S, Lương Văn D. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vi Văn S.
Tuyên bố các bị cáo Vi Văn S, Lương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Vi Văn S 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.
- - Bị cáo Lương Văn D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 702MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định có đầy đủ chữ ký của người có liên quan tại mặt sau;
- - Trả lại cho bị cáo Vi Văn S 01 điện thoại di động Realme, màu xanh đã qua sử dụng có số IMEI: 860812041994317 và số tiền 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân và Ủy nhiệm chi ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Kho bạc Nhà nước L1 giữa Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn S. Bị cáo Lương Văn D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đức Hoàng |
Bản án số 238/2024/HS-ST ngày 29/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 238/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Sơn
