|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 238/2024/HS-ST Ngày: 25-9-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Ngọc Hạnh;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 24 và ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 261/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn C, sinh năm 1993 tại Vĩnh Long; Nơi thường trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nơi ở: Khu phố H, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Lý Kiều T; bị cáo có 02 anh em, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 06/4/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt 5 năm tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 81 (thời điểm này bị cáo chưa đủ 18 tuổi); Ngày 28/7/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 51/2011/HS-ST ngày 28/7/2011; Ngày 27/4/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương xử phạt 16 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 83/2012/HS- ST. Tổng hợp 5 năm tù tại bản án số 81 ngày 06/4/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương và 9 tháng tù tại bản án số 56 ngày 28/7/2011 của Tòa án nhân dân huyện Bình Minh,
tỉnh Vĩnh Long, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 01 tháng tù. Bị can chấp hành xong án phạt tù ngày 02/4/2016.
Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 25/5/2023 cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Bà Trần Hà Yến N, sinh năm 2004; nơi thường trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Thanh N1, sinh năm 2002; Nơi thường trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; vắng mặt.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Kiều T1, sinh năm 1998; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2016, sau khi chấp hành xong hình phạt tù đối với 03 bản án về các tội chiếm đoạt tài sản, Trần Văn C đến ở trọ tại nhà trọ Nguyễn Thị T2 thuộc khu phố H, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 20 giờ ngày 24/5/2023, Trần Văn C đi đến phòng trọ của Trần Thanh N1 (sinh năm 2002, Nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng) là em ruột của C chơi thì được N1 cho mượn 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đồng để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, C đem điện thoại về đến phòng trọ của mình thuê ở, mở điện thoại ra xem thì thấy phần hình ảnh ẩn trong điện thoại có một số đoạn video và hình ảnh của chị Trần Hà Yến N (sinh năm 2004, Nơi cư trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương) không mặc quần áo, có số điện thoại 0829.385.xxx đăng ký tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Yến Nhi”. Lúc này, C nảy sinh ý định uy hiếp tinh thần của chị N chiếm đoạt tiền để tiêu xài nên sử dụng tài khoản Zalo tên “Trần Thuận T3” được đăng ký số điện thoại 0989.115.xxx của C kết bạn qua Zalo với chị N. Sau đó, C gửi những đoạn video và hình ảnh của chị N cho chị N xem rồi gọi điện thoại và nhắn tin yêu cầu chị N đưa 10.000.000 đồng sẽ cho chuộc lại điện thoại bên trong có những hình ảnh, video, nếu không đưa tiền thì C sẽ đăng hình ảnh và video lên mạng xã hội. Chị N nói là học sinh, không có tiền thì C giảm cho chị N còn 5.000.000 đồng. Lúc này, chị N nói chỉ có 300.000 đồng trong tài khoản thì C yêu cầu chị N chuyển tiền vào tài khoản số 1019524761 Ngân hàng V của C. Sau đó, chị N sử dụng tài khoản số 1019266493 ngân hàng V của chị N chuyển số tiền 300.000 đồng cho C. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, C đi đến địa điểm rút tiền nhanh rút số tiền 300.000 đồng rồi sử dụng tiêu xài hết.
Đến khoảng 08 giờ ngày 25/5/2023, C tiếp tục nhắn tin qua Zalo của chị N yêu cầu chuyển thêm tiền. Lúc này, chị N nói sẽ vay tiền rồi chuyển số tiền 700.000 đồng cho C. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, C không thấy chị N chuyển tiền nên điện thoại đe dọa, yêu cầu chị N chuyển tiền cho C nếu không C sẽ phát tán video và hình ảnh của chị N lên mạng xã hội. Khoảng 20 phút sau, chị N chuyển khoản số
tiền 1.000.000 đồng cho C. Tuy nhiên, C tiếp tục gửi video và hình ảnh cho chị N để uy hiếp tinh thần, yêu cầu chị N chuyển khoản số tiền còn lại cho C. Sau đó, C đi rút số tiền 1.000.000 đồng đem về nhằm để tiêu xài.
Đến khoảng 10 giờ ngày 25/5/2023, chị Trần Hà Yến N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phô B trình báo vụ việc Trần Văn C cưỡng đoạt tiền của mình. Sau đó, lực lượng Công an thị xã B phối hợp Công an phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến phòng trọ của C kiểm tra hành chính phát hiện và thu giữ: 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đồng, 01 thẻ ATM Ngân hàng V mang tên Trần Văn C và số tiền 1.000.000 đồng của Trần Văn C.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của C phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đồng là của Trần Hà Yến N, được cha ruột là anh Trần Văn N2 (sinh năm 1976; Nơi cư trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương) mua cho sử dụng. Sau đó, do điện thoại bị hư hỏng nên anh N2 cho người tên H1 (không rõ lai lịch) làm nghề sửa chữa điện thoại di động ở khu vực chợ H2 thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Sau đó, H1 cho Trần Thanh N1. Ngày 24/5/2023, Trần Thanh N1 cho Trần Văn C mượn điện thoại sử dụng.
Về xử lý vật chứng: Ngày 31/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả số tiền 1.000.000 đồng cho chị Trần Hà Yến N. Ngày 13/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát xử lý vật chứng, giao trả: 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đồng cho Trần Thanh N1.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Hà Yến N yêu cầu Trần Văn C trả lại số tiền 300.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 256/CT-VKSBC ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn C mức hình phạt từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Trần Văn C bồi thường cho bị hại Trần Hà Yến N số tiền 300.000 đồng.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 thẻ ATM Ngân hàng V mang tên Trần Văn C.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 256/CT-VKSBC ngày 16/9/2024.
Bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/5/2023, Trần Văn C có hành vi gọi điện thoại, nhắn tin uy hiếp tinh thần và yêu cầu bị hại Trần Hà Yến N đưa cho C số tiền 5.000.000 đồng nếu không sẽ gửi video và hình ảnh nhạy cảm của bị hại lên mạng xã hội. Bị hại đã chuyển khoản cho C 02 lần với tổng số tiền 1.300.000 đồng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, lười lao động bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Ngày 06/4/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt 5 năm tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 81 (thời điểm này bị cáo chưa đủ 18 tuổi); Ngày 28/7/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 51/2011/HS-ST ngày 28/7/2011;
Ngày 27/4/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương xử phạt 16 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 83/2012/HS- ST. Tổng hợp 5 năm tù tại bản án số 81 ngày 06/4/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương và 9 tháng tù tại bản án số 56 ngày 28/7/2011 của Tòa án nhân dân huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 01 tháng tù. Bị can chấp hành xong án phạt tù ngày 02/4/2016.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối chiếu với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời có tác dụng giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Do đó, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Hà Yến N yêu cầu bị cáo bồi thường 300.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả lại 300.000 đồng cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh N1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 thẻ ATM Ngân hàng V mang tên Trần Văn C là phương tiện thực hiện tội phạm cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn C mức hình phạt 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 586, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại bà Trần Hà Yến N số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ ATM Ngân hàng V mang tên Trần Văn C.
(Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/9/2024 giữa Công an thành phố B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Cát).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Diễm Phúc |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Thị Ngọc Hạnh- Nguyễn Kim Lý |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Diễm Phúc |
Bản án số 238/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 238/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn C phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản"
