Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 238/2024/DS-ST

Ngày: 09/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Nguyễn Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đặng Thị Ngọc Bích
  2. Bà Võ Anh Thư

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Minh Phước - Thư ký Toà án nhân dân Quận 1.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án Toà án nhân dân Quận 1, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 239/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7014/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 9466/2024/QÐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
  2. Địa chỉ: số B - B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S

    Địa chỉ: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)

    Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970

    Địa chỉ: số A, tổ C, khu phố B, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 351/2024/UQ-TGĐ ngày 04/01/2024).

  3. Bị đơn: Bà Phan Thị Thanh V, sinh năm 1987
  4. Địa chỉ: số A Chợ C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện của nguyên đơn ông Lã Ngọc M có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Phan Thị Thanh V văng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ông Lã Ngọc M là người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 09/10/2017, bà Phan Thị Thanh V và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi là Ngân hàng) có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 356480-0275 với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng với mục đích là tiêu dùng cá nhân, mức lãi suất được áp dụng là mức lãi suất thỏa thuận giữa đơn vị phát hành thẻ và chủ thẻ.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.533.804 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 32.543.500 đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Tuy nhiên từ ngày 30/6/2021 đến nay, bà V không thanh toán cho Ngân hàng nữa. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ Điều 23 của bản bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, ngày 01/9/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 14.879.627 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng (lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng x 150% = 3,9%/tháng). Tạm tính đến ngày 09/7/2024, bà V còn nợ Ngân hàng số tiền 34.900.667 đồng (trong đó nợ gốc 14.879.627 đồng, lãi quá hạn 20.021.040 đồng).

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Phan Thị Thanh V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/10/2017 tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 34.900.667 đồng (trong đó nợ gốc 14.879.627 đồng, lãi quá hạn 20.021.040 đồng).

Thời hạn thanh toán: trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà V có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong hợp đồng đã giao kết tính trên dư nợ gốc từ ngày 10/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập; Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa; Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị đơn bà Phan Thị Thanh V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Phan Thị Thanh V có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này gọi chung là hợp đồng). Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho bà V với số thẻ 356480-0275, hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán nợ gốc và lãi quá hạn theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã giao kết là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Bị đơn bà Phan Thị Thanh V có địa chỉ thường trú tại số A Chợ C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và đây cũng là địa chỉ được ghi trên hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã giao kết. Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc là 14.879.627 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngày 09/10/2017, bà Phan Thị Thanh V và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi là Ngân hàng) có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này gọi chung là hợp đồng). Ngân hàng đã cấp cho bà V 01 thẻ tín dụng số thẻ 356480-0275, hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng với mục đích là tiêu dùng cá nhân, mức lãi suất được áp dụng là mức lãi suất thỏa thuận giữa đơn vị phát hành thẻ và chủ thẻ. Việc giao kết hợp đồng giữa các bên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, căn cứ bản tóm tắt sao kê các giao dịch qua thẻ Visa số 356480-0275 của bà Phan Thị Thanh V từ ngày 31/10/2017 đến ngày 01/7/2024 thể hiện bà V đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 29.533.804 đồng đồng. Bà V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 32.543.500 đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Cụ thể: Phí trễ hạn là 2.176.223 đồng; Phí vượt hạn mức là 100.000 đồng; các khoản Phí (phí thường niên, phí rút tiền mặt) là 897.000 đồng; Lãi là 34.737.140 đồng.

Từ ngày 30/6/2021 đến nay, bà V không thanh toán cho Ngân hàng nữa. Ngày 01/9/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 14.879.627 đồng làm nợ gốc. Bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà V phải thanh toán số tiền nợ gốc còn thiếu là phù hợp với quy định tại Điều 2, Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng mà hai bên đã giao kết và quy định tại Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, nên có cơ sở chấp nhận.

Do đó bà V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/10/2017 là 14.879.627 đồng.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền lãi quá hạn tạm tính từ ngày 01/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là 20.021.040 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên có trách nhiệm thanh toán tiền lãi quá hạn phát sinh tính trên dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận là phù hợp với quy định tại Điều 2 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng mà hai bên đã giao kết và quy định tại Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.

Đối với lãi quá hạn của thẻ Visa: Theo Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam thì mức lãi suất được áp dụng đối với thẻ tín dụng S1 Visa là 2,6%/tháng.

Theo thỏa thuận quy định trong hợp đồng thì mức lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 150% lãi trong hạn, do đó mức lãi suất nợ quá hạn của thẻ Visa là 2,6%/tháng x 150% = 3,9%/tháng.

Như vậy, số tiền lãi quá hạn tính trên dư nợ gốc bà V phải trả từ ngày 01/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là: 20.021.040 đồng.

[4] Do đó, tổng số tiền gốc và lãi mà bà V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm là:

14.879.627 đồng + 20.021.040 đồng = 34.900.667 đồng.

Thời hạn thanh toán: trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà V có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong hợp đồng đã giao kết tính trên dư nợ gốc kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.745.033 đồng tính trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho nguyên đơn tạm ứng án phí đã nộp là 782.567 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Khoản 4 Điều 161 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
  • Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Điều 7, Điều 8, Điều 10, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

    Buộc bà Phan Thị Thanh V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc là 14.879.627 đồng và lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 20.021.040 đồng theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/10/2017; tổng cộng số tiền gốc và lãi là 34.900.667 đồng.

    Thời hạn thanh toán: trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Bà Phan Thị Thanh V có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong hợp đồng đã giao kết tính trên dư nợ gốc kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.

    Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Phan Thị Thanh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.745.033 đồng.

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 782.567 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0038130 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 1;
  • - Chi cục THADS Quận 1;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Nguyễn Mai Phương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 238/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 238/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger