Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 238/2023/HS-ST

Ngày: 27-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Văn Ngôn
  2. Bà Dương Thị Hoa

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh- Thư ký Toà án nhân dân huyện Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 238/2023/TLST- HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2023/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Thân Văn S, sinh năm 1973; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Bẩy, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Thân Văn Xưa (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Thoáng; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Thân Thị Huyền; Con: bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).

* Bị hại: Chị Trần Thùy Dương, sinh năm 1999 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Hoàng Quang T, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Mỹ Cầu, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Gaing, tỉnh Bắc Giang.

* Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ vận tải Mạnh Tiến.

Địa chỉ: Số nhà 158, phố Giỗ, khu 2, thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Gia H, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 143, đường Giáp Hải, tổ dân phố Quyết Thắng, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Thân Văn S có giấy phép lái xe ô tô hạng FC theo quy định. Ngày 02/01/2023, S ký hợp đồng làm lái xe thuê cho Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Mạnh Tiến (viết tắt là Công ty Mạnh Tiến), địa chỉ ở số nhà 158 phố Giỗ, khu 2, thị trấn Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 23/6/2023, sau khi điều khiển xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu FREIGHTLINER, biển kiểm soát 34C-057.62, kéo theo sơ mi rơ mooc nhãn hiệu CIMC, biển kiểm soát 34R-023.86 của Công ty Mạnh Tiến đi trả hàng ở khu vực sân bay Nội Bài- Hà Nội, S điều khiển xe về nhà ở thôn Bẩy, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên để nghỉ và đợi có thông báo của Công ty Mạnh Tiến để tiếp tục đi chở hàng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, S điều khiển xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu FREIGHTLINER, biển kiểm soát 34C- 057.62, kéo theo sơ mi rơ mooc nhãn hiệu CIMC, biển kiểm soát 34R-023.86 đến đỗ ở khu vực ngã ba đoạn đường mới nối thôn Thượng Phúc đi đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang giao nhau với đường đi vào Thôn 7, xã Tăng Tiên, huyện Việt Yên thuộc địa phận thôn 7, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên. S đỗ xe sát mép đường bên phải, đầu xe ô tô hướng đường cao tốc, đuôi xe hướng đi thôn Thượng Phúc nhưng không bật đèn cảnh báo, không đặt báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và sau xe ô tô rồi bỏ đi khỏi xe. Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 24/6/2023, chị Trần Thùy Dương, sinh năm 1999, trú tại thôn Mỹ cầu, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 98B3- 582.80 (viết tắt là xe mô tô biển kiểm soát 98B3-582.80) đi trên đường mới hướng thôn Thượng Phúc, xã Tăng Tiến đi đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang tới đoạn đường S đỗ xe ô tô. Lúc này, trời có mưa và tối, không có đèn đường, phía trước và phía sau xe ô tô S đỗ không có cảnh báo, chị Dương tH chú ý quan sát nên để đầu xe mô tô đâm vào giá bảo vệ thùng phía sau, trục bánh số 6 bên trái xe ô tô biển kiểm soát 34C-057.62, kéo theo sơ mi rơ móoc, biển kiểm soát 34R- 023.86, đồng thời người chị Dương đập vào thành mép ngoài bên trái phía sau sơ mi rơ mooc. Sau va chạm giao thông, xe mô tô bị hư hỏng, chị Dương bị thương nằm bất tỉnh ở mặt đường rồi được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, sau đó chuyển ra Bệnh viện Việt Đức ở Hà Nội để tiếp tục điều trị. Do bị thương tích nặng nên ngày 25/6/2023 chị Dương tử vong.

Sau khi tiếp nhận thông tin vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn và khám nghiệm tử thi, trưng cầu Cơ quan giám định xác định nguyên nhân chết.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là tại đoạn đường mới thuộc thôn Bẩy, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa thẳng phẳng rộng 14 m, được chia thành hai chiều đường xe chạy bằng một vạch S đứt quãng ở giữa rộng 0,15m, mỗi chiều đường xe chạy được chia thành hai làn đường xe chạy rộng lần lượt là 3,2m; 3,35m; 3,6m; 3,4m bằng hai vạch S đứt quãng màu trắng, mỗi vạch

2

S rộng 0,15m. Trên đường tại nơi xảy ra tai nạn giao thông có hai lối rẽ vào thôn Bẩy, xã Tăng Tiến rộng lần lượt là 7m và 40m, hai bên đường là lề cỏ, nhà dân và hàng cây. Phải, trái hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định theo chiều từ thôn Thượng Phúc đi đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang, lấy mép đường bên phải làm chuẩn, chân cột điện cH sáng TSC1/17 bên phải đường làm mốc. Trên hiện trường để lại các dấu vết:

Xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 34C-057.62 kéo theo Sơ mi rơ mooc, biển kiểm soát 34R-023.86 đang đỗ bên phải đường (ký hiệu số 1), đầu xe hướng đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang, đuồi xe hướng thôn Thượng Phúc, xã Tăng Tiến; trục bánh trước bên phải nằm trên mép đường bên phải, trục bánh sau cuối cùng bên phải cách mép đường bên phải là 0,16m.

Vết cầy xước mặt đường (ký hiệu số 2), kích thước (3,85 X 0,01)m, tâm đầu vết cầy cách mép đường bên phải 4,08m và cách trục bánh sau cuối cùng bên trái của xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 34C-057.62 kéo theo sơ mi rơ móoc, biển kiểm soát 34R-023.86 là 1,74m. Tâm cuối vết cầy xước nằm dưới vị trí để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98B3-582.80 và cách mép đường bên phải là 6,2m.

Xe mô tô, biển kiểm soát 98B3-582.80 (ký hiệu số 3) đang đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe hướng đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đuôi xe hướng thôn Thượng Phúc, xã Tăng Tiến. Trục bánh trước xe mô tô cách mép đường bên phải 6,3m và cách trục bánh trước của xe ô tô đầu kéo, biến kiểm soát 34C-057.62 kéo theo sơ mi rơ móoc, biển kiểm soát 34R-023.86 là 11,65m. Trục bánh sau xe mô tô cách mép đường bên phải là 6,05 m và cách tâm bãi máu ký hiệu số 4 là 1,5m.

Bãi máu (ký hiệu số 4), kích thước (1,4 X 1,0)m, tâm bãi máu cách mép đường bên phải 5,7m và cách tâm đầu vết cầy xước ký hiệu số 2 là 2,2m.

Bãi mảnh nhựa vỡ (ký hiệu số 5), kích thước (8,6x4,7)m, tâm cách mép đường bên phải 4,45m và cách trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 582.80 là 1,9m.

Khoảng cách 6,55m tính từ trục bánh trước bên phải của xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 34C-057.62 kéo theo sơ mi rơ móoc, biển kiểm soát 34R-023.86 đến chân cột đèn cH sáng TCS1/17 bên phải đường được xác định là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông.

Kết quả khám nghiệm xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu FREIGHTLINER, màu S trắng, biển kiểm soát 34C-057.62 kéo theo sơ mi rơ móoc, nhãn hiệu CIMC, màu S vàng, biển kiểm soát 34R-023.86: Góc bên trái phía sau thùng xe để lại vết tỳ nén, mòn kim loại, bám dính tạp chất màu vàng, kích thước (0,05 X 0,02)m, tâm cách đất 1,45m. Góc bên trái phía sau bảo vệ thùng xe để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,11 X 0,01)m, tâm cách đất 0,55m. Đèn xi nhan phía sau bên trái thùng xe để lại vết tỳ nén, nứt vỡ, cong vênh hướng từ sau về trước, kích thước (0,10 X 0,06)m. Mặt ngoài bu chắn bùn phía sau bên trái để lại vết tỳ nén, mài sát, cong vênh kim loại, kích thước (0,12 X 0,12)m, tâm cách đất

3

0,70m. Mặt ngoài bánh lốp đôi cuối cùng bên trái để lại vết mài sát mòn cao su, kích thước (01 X 0,20)m, tâm cách chân van 0,50m.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô, nhãn hiệu Honda lead, màu S đỏ nâu, số, biển kiểm soát 98B3-582.80: Mặt ngoài ốp gương cH hậu bên phải để lại vết tỳ nén, mài sát mòn nhựa, kích thước (0,06 X 0,02)m. Mặt ngoài tay phanh bên phải để lại vết tỳ nén, mài sát mòn kim loại, bám tạp chất màu đỏ, kích thước (0,07 X 0,0 1)m. Đầu núm tay phanh bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,01 X 0,01)m. Đầu núm tay lái bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,01 X 0,01)m, tâm cách đất 0,96m. Chân gương bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,03 X 0,01)m, tâm cách đất 0,1 lm. Mặt ngoài đèn pha phía trước để lại vết mài sát mòn nhựa, kích thước (0,04 X 0,03)m. Đèn xi nhan, mặt nạ để lại vết tỳ nén, mài sát, bật rời khỏi xe. Bu chắn bùn phía trước để lại vết tỳ nén, vỡ, bật rời khỏi xe. Mặt ngoài giảm sóc trước bên phải để lại vết tỳ nén, mài sát kim loại, bám tạp chất màu đen, kích thước (0,06 X 0,03)m, tâm cách đất 0,30m. Mặt ngoài má lốp phía trước bên phải để lại vết tỳ nén, mài sát mòn cao su, kích thước (0,40 X 0,04)m, tâm cách chân van 0,20m. Mặt ngoài vành xe phía trước bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, bám tạp chất màu đen, kích thước (0,33 X 0,0 1)m, tâm cách chân van 0,16m. Cánh yếm bên phải, cánh yếm bên trái trái để lại vết tỳ nén nứt vỡ, bật rời khỏi xe. Phần nhựa sườn xe bên phải để lại vết tỳ nén nứt vỡ, kích thước (0,37 X 0,25)m, tâm cách đất 0,70m. Sườn xe bên trái để lại vết mài sát mòn nhựa, kích thước (0,28 X 0,06)m, tâm cách đất 0,58m. Mặt ngoài để chân sau bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,11 X 0,04)m, tâm cách đất 0,33m. Chân chống phía sau bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,02 X 0,0 1)m, tâm cách đất 0,22m. Mặt ngoài bảo vệ ống xả để lại vết tỳ nén nút vỡ, kích thước (0,12 X 0,1 1)m, tâm cách đất 0,3 Om. Kiểm tra mũ bảo hiểm màu vàng theo xe thấy: sườn phải bị tỳ nén, nút vỡ, kích thước (0,43 X 0,15)m.

Kết quả khám nghiệm tử thi chị Trần Thùy Dương thể hiện: Lỗ tai phải có máu không đông chảy từ trong ra. Hai mắt khép kín, bầm tím xung quanh hốc mắt phải. Hai lỗ mũi khồ, miệng ngậm, lưỡi trong cung răng. Vùng trán phải có vết thương rách da, bờ mép gọn, nằm chếch chéo, kích thước (11 X 03)cm, qua đó để lộ tổ chức dưới da, xương vùng trán phải. Phía trên vết rách da vùng trán phải, có vết rách da nhỏ, kích thước (03 X 01)cm. Gò má phải có vết sây sát da, kích thước (02 X 1,2)cm. Môi trên, môi dưới và vùng cằm có nhiều vết sây sát da, trên diện (08 X 02)cm. Hạ sườn phải có vết mài xước da, bầm tím, kích thước (11 X 2,5)cm. Mặt ngoài đùi phải có vết bầm tím da, kích thước (08 X 1 1)cm. Kiểm tra vùng đầu qua vết thương vùng trán phải thấy: Bầm dập, lóc tổ chức dưới da xung quanh vết thương. Dập vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng trán điểm và trần hốc mắt phải, có nhiều mảnh rời, qua đó thấu vào tổ chức não và có nhiều máu không đông chảy ra.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1104/KL-KTHS ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình Sự-Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của Trần Thúy Dương do chấn thương sọ não: Vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng trán và trần hốc mắt phải. Các tổn thương rách da, sây sát,

4

bầm tím do tác động với vật tày theo nhiều chiều hướng, diện tiếp xúc và lực khác nhau tạo nên. Trong đó vết rách da vùng trán phải do tác động với vật tày, có cạnh, lực tác động mạnh tạo nên; làm vỡ xương hộp sọ là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong của Trần Thúy Dương.

Tại Bản kết luận giám định số 1357/KL-KTHS ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

  1. “1. Dấu vết chùn cong, bẹp méo, mài sát S, kim loại tại cạnh ngoài 1/2 sau chắn bùn trục bánh số 6 bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 34C - 057.62 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 34R - 023.86, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 44, 45 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy vỡ, mài sát S, kim loại, bám dính chất màu đỏ (dạng S) tại tay phanh bên phải, cánh yếm phải, mặt nạ, chắn bùn bánh trước, giảm sóc trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soátlậ^ 98B3 - 582.80, có chiều hướng từ trước về sau (ảnh số 7 đến 10, 13 bản ảnh khám phương tiện).

Dấu vết mài sát cao su, sạch bụi đất tại má ngoài lốp ngoài trục bánh số 6 bên trái của ô tô biển kiểm soát 34C - 057.62 kéo theo sơ mi rơ mooc biến kiểm soát 34R - 023.86, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 46, 47, 48 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát cao su, kim loại, sạch bụi đất, sbám dính chất màu đen (dạng cao su) tại bên trái má lốp và vành bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 582.80, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh.

Dấu vết mài sát kim loại tại bên trái giá bảo vệ phía sau thùng của xe ô tô biển kiểm soát 34C - 057.62 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 34R - 023.86, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 42, 43 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy vỡ, mài sát S, nhựa, kim loại tại bên phải tay xách phía sau và ốp sườn của xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 582.80, có chiều hướng từ trước về sau (ảnh số 24, 25 bản ảnh khám phương tiện).

  1. Dấu vết cày xước ký hiệu số 2 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 582.80 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên.
  2. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 582.80 với xe ô tô biển kiểm soát 34C - 057.62 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 34R - 023.86 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2 (góc bên trái thùng của sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 34R - 023.86), thuộc chiều chuyến động bên phải theo hướng thôn Thượng Phúc đi cao tốc Hà Nội - Bắc Giang.
  3. Chiều hướng va chạm: Tại thời điểm xảy ra va chạm, hai phương tiện cùng chiều nhau.
  4. Không xác định được tốc độ của xe môtô biển kiểm soát 98B3 - 582.80 tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học. (Bút lục 112-124).

5

Tại bản kết luận định giá tài sản số 121, 122 /KL-HĐĐGTS cùng ngày 25/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên kết luận phần thiệt hại xe mô tô biển kiểm soát 98B3-582.80 trị giá 10.520.000 đồng, xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu FREIGHTLINER, biển kiểm soát 34C-057.62 kéo theo sơ mi rơ mooc, nhãn hiệu CIMC, biển kiểm soát 34R-023.86 trị giá 125.000 đồng. (Bút lục 121-125).

Tại Bản cáo trạng số 227/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo Thân Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo S và đề nghị Hội đồng xét xử xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thân Văn S từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo S.

Về án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà hôm nay, bị cáo S đã khai nhận rõ hành vi của mình như cáo trạng đã nêu và nhận thức được việc làm của mình là sai, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại anh Hoàng Quang T có mặt trình bày:

- Về hình phạt: Anh xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội đi làm nuôi cuộc sống gia đình.

- Về bồi thường: Anh xác nhận gia đình anh đã nhận bồi thường từ bị cáo S số tiền 150.000.000 đồng, anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền gì vì gia đình bị cáo hoàn cảnh rất khó khăn. Tại phiên tòa hôm nay anh không có yêu cầu đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Việt Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

6

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa Nguyên đơn dân sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai đầy đủ nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại Điều 292, Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Thân Văn S tại phiên tòa hôm nay phù hợp lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, vật chứng thu giữ và kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Thân Văn S có giấy phép lái xe ô tô hạng FC theo quy định. Khoảng 13 giờ ngày 23/6/2023, S điều khiển xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu FREIGHTLINER, biển kiểm soát 34C-057.62 kéo theo sơ mi rơ móoc nhãn hiệu CIMC, biển kiểm soát 34R-023.86 đỗ tại sườn đường, trong khu vực ngã ba đường mới hướng thôn Thượng Phúc, xã Tăng Tiến đi đường gom cao tốc Hà Nội- Bắc Giang giao nhau với đường đi vào thôn Bẩy, xã Tăng Tiến, thuộc địa phận thôn 7, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên. Khi đỗ xe, S không bật đèn cảnh báo, không đặt báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và sau xe ô tô rồi bỏ đi chỗ khác (vi phạm Điều 18 Luật giao thông đường bộ). Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 24/6/2023, chị Trần Thùy Dương, sinh năm 1999, trú tại thôn Mỹ cầu, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang điều khiển mô tô biển kiểm soát 98B3-582.80 đi trên đường mới hướng thôn Thượng Phúc đi đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang tới đoạn đường S đỗ xe ô tô. Lúc này, trời có mưa và tối, không có đèn đường, chị Dương không phát hiện xe ô tô S đỗ ở đường nên để đầu xe mô tô đâm vào giá bảo vệ thùng phía sau, trục bánh số 6 bên trái xe ô tô, đồng thời người chị Dương đập vào thành mép ngoài bên trái phía sau sơ mi rơ mooc. Hậu quả, chị Dương bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện sau đó tử vong, hai phương tiện giao thông bị hư hỏng với tổng giá trị thiệt hại 10.645.000 đồng. Hành vi của bị cáo S đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo S theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ.

[5] Xét mức độ lỗi trong vụ án thì thấy: Trong vụ án này lỗi hỗn hợp, lỗi một phần do bị hại chị Trần Thùy Dương điều khiển xe đến khu vực ngã ba đường giao nhau, trời mưa và tối, tầm nhìn bị hạn chế nhưng không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an toàn vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ và lỗi do bị cáo S khi đỗ xe, không bật đèn cảnh báo, không đặt báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và sau xe ô tô rồi bỏ đi chỗ khác vi phạm Điều 18 Luật giao thông đường bộ.

7

[6] Về nhân thân: Bị cáo S có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo S có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, trong vụ án này có một phần lỗi của bị hại. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã đầu thú, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, quá trình điều tra và tại phiên tòa gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo S được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo S không có.

Với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ lỗi của bị cáo, hậu quả của hành vi của bị cáo gây ra cùng với tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như nêu trên, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong vụ án nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông lỗi một phần của bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy không cần bắt bị cáo chịu hình phạt tù, cho hưởng án treo thì bị cáo cũng có thể tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao sửa đổi bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự về việc người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề giao thông vận tải, xét thấy bị cáo S nghề nghiệp chính là lái xe ngoài ra không có nghề nào khác, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Thân Văn S đã bồi thường cho gia đình chị Trần Thùy Dương số tiền 150.000.000 đồng. Tại phiên tòa anh T là đại diện hợp pháp của bị hại có mặt không yêu cầu bị cáo S bồi thường khoản tiền gì. Quá trình điều tra Công ty Mạnh Tiến không yêu cầu bị cáo S phải bồi thường khoản tiền gì liên quan đến thiệt hại của xe ô tô. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[11] Về vật chứng của vụ án: Kết quả điều tra xác định xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 34C-057.62 kéo theo sơ mi rơ mooc, biển kiểm soát 34R-023.86 là tài sản của Công ty Mạnh Tiến, xe mô tô biển kiểm soát 98B3-582.80 là tài sản của chị Trần Thúy Dương. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô đầu kéo, kéo theo sơ mi rơ mooc cho Công ty Mạnh Tiến, xe mô tô cho anh Hoàng Quang T, sinh năm 1995 là chồng chị Dương. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[12] Về án phí: Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23

8

của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại, Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Thân Văn S 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/12/2023.

Giao bị cáo Thân Văn S cho UBND xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Thân Văn S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Việt Yên;
  • - Cơ quan CSĐT (Công an huyện Việt Yên);
  • - Chi cục THADS huyện Việt Yên;
  • - Bị cáo; NĐDHP bị hại; NĐDS văng mặt;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Vân

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 238/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 238/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo S phạm tội vi phạm ATGT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger