Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN A

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 238/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân

và gia đình, ly hôn, nuôi

con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và ông Huỳnh Thanh Phong.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2024/QĐXXST-HN ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 307/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ C, khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Thái Văn S, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ C, khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang;

(Bà L có đơn xin xét xư vắng mặt, ông S vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Lê Thị Ngọc L trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông S do tự tìm hiểu, được cha mẹ đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới vào năm 2015 và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là thị trấn Đ), huyện A, tỉnh An Giang vào năm 2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, thường xuyên cãi vả, không tìm được tiếng nói chung từ đó mâu thuẫn tình cảm ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà và ông S sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, bà và ông S không liên lạc với nhau, gia đình hai bên cũng không hàn gắn. Nay bà không còn tình cảm với ông S nên yêu cầu được ly hôn với ông S.

Về con chung: Có 01 con chung tên: Thái Thị Ngọc N, sinh ngày 14/4/2016, đang sống chung với ông S. Khi ly hôn, bà L đồng ý giao con chung cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng, bà xin không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án tiến hành phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì ông S vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.

Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.

Biên bản xác minh ngày 02/5/2024, người thân bà L cung cấp: Hôn nhân của bà L và ông S tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2015. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì vợ chồng L, S thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, nhà chồng bà L khó khăn về tài chính, ông S thường xuyên ăn nhậu, không quan tâm chăm sóc vợ con. Theo bà khả năng hàn gắn của hai người là không thể vì thời gian ly thân đã lâu, hiện tại ông S cũng không thay đổi tính tình, không quan tâm cũng như hàn gắn tình cảm với bà L; về con chung thì có 01 con chung, hiện đang sống với ông S; tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.

Theo thông báo ngày 22/5/2024, ông Nguyễn Văn T - Trưởng Công an thị trấn Đ cung cấp: Hiện ông Thái Văn S vẫn còn đăng ký thường trú tại khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên toà:

L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông S vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bà L, ông S theo thủ tục chung.

Hội đồng đồng xét xử đã công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa theo quy định.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của bà L, ông S có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao con chung cho ông S được tiếp tục nuôi dạy.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do ông S vắng mặt, Tòa án không ghi nhận ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Thái Thị Ngọc N nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Ngọc L yêu cầu được ly hôn với ông Thái Văn S. Ông S cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông S được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông S theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà L, ông S do tự tìm hiểu yêu thương tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là thị trấn Đ), huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 21/3/2016 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của bà L xin ly hôn với ông S, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L, ông S phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên đã sống ly thân từ năm 2018. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông S không có mặt để hàn gắn tình cảm, bà L cương quyết ly hôn. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình bà L, ông S nên yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên: Thái Thị Ngọc N, sinh ngày: 14/4/2016. Hiện cháu N đang sống với ông S, bà L đồng ý giao cháu N cho ông S tiếp tục nuôi dạy, do không ghi nhận được ý kiến của cháu N và ông S nên để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt nên Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu N cho ông S được tiếp tục nuôi dạy.

Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do ông S vắng mặt, Tòa án không ghi nhận ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Thái Thị Ngọc N nên không đề cập xem xét, nếu ông S có yêu cầu về mức cấp dưỡng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà L xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc L được ly hôn với ông Thái Văn S.

Về con chung: Ông Thái Văn S được trực tiếp nuôi dạy 01 (một) con chung tên Thái Thị Ngọc N, sinh ngày 14/4/2016, bà L không cấp dưỡng nuôi con chung.

L cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của ông S. Ngược lại, ông S và các thành viên trong gia đình không được cản trở bà L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà bà L1 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 00009403 ngày 16/4/2024.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS huyện (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn (1);
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 238/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 238/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà L - ông S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger