|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 238/2024/HS-ST Ngày: 06 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
· Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền và ông Trịnh Văn Trồi
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đại – Kiểm sát viên.
Ngày 06/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 210/2024/TLST-HS ngày 12/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2024/QĐXXST-HS ngày 19/8/2024 đối với bị cáo:
Phùng Thị Ngọc Á, sinh ngày 03/9/2003; CCCD số [...]; Giới tính: Nữ; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Khu D, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: đang là sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Phùng Ngọc C, con bà: Ngọc Thị L; Chưa có chồng, con; D chỉ bản số 429 do Công an quận H lập ngày 05/6/2024; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam: không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Công ty TNHH V. Địa chỉ trụ sở chính: A B, phường P, quận A, Hồ Chí Minh. Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thọ T, sinh năm 1985; CCCD số [...]; hộ khẩu thường trú: tổ dân phố F, phường P, quận H, Hà Nội; là giám sát an ninh của Chi nhánh Công ty TNHH V tại Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Phùng Thị Ngọc Á đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Ngày 17/11/2023, Phùng Thị Ngọc Á ký “Hợp đồng tập nghề” với Chi nhánh Công ty TNHH V do ông C1 Yiu Kwong làm giám đốc, có trụ sở tại TT01A-11, Khu nhà ở H, phường M, quận H, Hà Nội để thử việc làm nhân viên bán hàng (không phải nhân viên chính thức) tại cửa hàng B, địa chỉ TT01A-11, Khu nhà ở H, phường M, quận H, Hà Nội trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày 17/11/2023 đến ngày 16/02/2024. Nhiệm vụ của Á là bán hàng, thu ngân và phục vụ theo yêu cầu của khách hàng. Hết thời hạn “Hợp đồng tập nghề”, Á vẫn tiếp tục làm việc tại cửa hàng nhưng chưa ký hợp đồng lao động mới.
Quá trình làm việc, Phùng Thị Ngọc Á phát hiện sơ hở trong việc quản lý nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tiền bán hàng của cửa hàng bằng cách: khi có khách mua hàng thanh toán, Ánh cho sản phẩm qua máy quét (gọi là máy POS) để xác định số tiền cần thanh toán, thông báo cho khách biết và thu tiền của khách, nhưng Á không xuất hóa đơn, đồng thời xóa mã hàng trên máy POS để máy không ghi nhận giao dịch và để Á sẽ lấy số tiền khách đã trả của cửa hàng. Để không bị khách hàng và quản lý nghi ngờ, Á ấn lệnh in hóa đơn đã thanh toán trước đó nhưng không giao hóa đơn này cho khách và vẫn ấn lệnh mở két thu ngân để bỏ tiền vào két, rồi tự tính nhẩm số tiền phải trả lại cho khách nếu khách đưa số tiền lớn hơn số tiền phải thanh toán.
Để chiếm đoạt được số tiền không xuất hóa đơn cho khách thì theo quy định của Công ty, khi hệ thống quản lý thông báo số tiền mặt thu của khách được 2.000.000 đồng (là tiền doanh thu được ghi nhận trong hệ thống quản lý) thì nhân viên sẽ phải lấy số tiền 2.000.000 đồng này từ két thu ngân để cất vào két sắt an toàn có niêm phong tại cửa hàng. Á lợi dụng lúc này để lấy số tiền không xuất hóa đơn (bằng việc sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu Vàng của Á để cộng dồn số tiền không xuất hóa đơn cho khách) từ két thu ngân ra ngoài, rồi giấu số tiền chiếm đoạt được vào gầm bàn; còn số tiền 2.000.000 đồng được ghi nhận trong doanh thu cửa hàng thì Á cho vào trong két sắt an toàn theo quy định. Khi vắng mặt nhân viên làm việc cùng ca hoặc quản lý cửa hàng, Á đưa tay vào trong gầm bàn lấy số tiền chiếm đoạt được cho vào trong ống tay áo khoác đồng phục mà Á đang mặc, rồi mang về nhà chi tiêu cá nhân hết.
Bằng thủ đoạn trên, Phùng Thị Ngọc Á đã chiếm đoạt được của cửa hàng Circle K tại địa chỉ TT01A-11, Khu nhà ở H, phường M, quận H, Hà Nội tổng số tiền là 8.733.004 đồng, cụ thể:
- Ca làm việc từ 14 giờ đến 22 giờ ngày 27/02/2024, Á xóa 53 mã sản phẩm và chiếm đoạt số tiền là 1.453.000 đồng;
- Ca làm việc từ 14 giờ đến 22 giờ ngày 01/03/2024, Á xóa 26 mã sản phẩm và chiếm đoạt số tiền là 909.000 đồng;
- Ca làm việc từ 14 giờ đến 22 giờ ngày 02/03/2024, Á xóa 81 mã sản phẩm và chiếm đoạt số tiền là 2.096.000 đồng;
- Ca làm việc từ 06 giờ đến 14 giờ ngày 05/03/2024, Á xóa 32 mã sản phẩn và chiếm đoạt số tiền là 776.000 đồng;
- Ca làm việc từ 14 giờ đến 22 giờ ngày 06/03/2024, Á xóa 64 mã sản phẩm và chiếm đoạt số tiền là 1.457.000 đồng;
- Ca làm việc từ 14 giờ đến 22 giờ ngày 07/03/2024, Á xóa 58 mã sản phẩm và chiếm đoạt số tiền là 1.256.004 đồng;
- Ca làm việc từ 14 giờ đến 22 giờ ngày 08/03/2024, Á xóa 35 mã sản phẩm và chiếm đoạt số tiền là 786.000 đồng.
Sau khi phát hiện sự việc trên, ngày 19/3/2024 anh Nguyễn Thọ T, là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH V, đã đến Công an phường M trình báo sự việc.
Cùng ngày 19/3/2024, Phùng Thị Ngọc Á đã đến Công an phường M xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) bảng kê giao dịch bán hàng bị xóa trên máy thanh toán POS từ ngày 27/02/2024 đến ngày 08/03/2024 (bản chính); 01 (một) lịch phân công ca làm việc (bản chính); 01 (một) bộ hồ sơ nhân viên, mô tả công việc (bản chính); 01 (một) chiếc USB bằng nhựa màu đen nhãn hiệu Lexar, dung lượng 128GB, chứa 181 đoạn Video ghi lại hình ảnh Phùng Thị Ngọc Á làm việc tại quầy thu ngân vào các ngày 27/02/2024, 01-02/3/2024, 05-06-07-08/3/2024 đều do anh Nguyễn Thọ T giao nộp và được lưu trong hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu Vàng (không rõ số IMEI hoặc số SERI) mà Á khai sử dụng làm phương tiện để cộng số tiền chiếm đoạt được hàng ngày: Á khai chiếc điện thoại này bị rơi vào nước và bị hỏng nên Á đã bán chiếc điện thoại này tại một cửa hàng mua bán điện thoại cũ tại Phú Thọ, không nhớ địa chỉ, tên cửa hàng, không có hóa đơn mua bán. Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc điện thoại này nên không có căn cứ để xử lý.
- Đối với các nhân viên làm việc cùng ca và người quản lý cửa hàng Circle K nơi Phùng Thị Ngọc Á làm việc gồm: anh Nguyễn Anh T1, Trần Hoàng N, Nguyễn Xuân T2, chị Trần Thị D1, chị Vũ Thị Phương N1, đều không biết và không được Á bàn bạc về hành vi Trộm cắp tài sản nên không đồng phạm với Á.
* Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH V yêu cầu Phùng Thị Ngọc Á phải bồi thường thiệt hại là 8.733.004 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 206/CT-VKS-HĐ ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Phùng Thị Ngọc Á về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Á khai đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo tự nguyện bồi thường 8.735.000 đồng cho bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông vào ngày 19/8/2024. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo tiếp tục học tập, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Á. Đề nghị tuyên bố bị cáo Á phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b (bồi thường xong cho bị hại), i (phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng), s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), h (phạm tội gây thiệt hại không lớn) khoản 1, khoản 2 (gia đình có công với cách mạng) Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo đang là sinh viên, không có nguồn thu nhập. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường 8.733.004 đồng; đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã nộp 8.735.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông để bồi thường cho bị hại. Các vật chứng đã thu giữ hiện đang lưu giữ trong hồ sơ, đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Đề nghị bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thẩm quyền: Vụ án xảy ra tại địa bàn quận H, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án được xác định là hợp pháp; các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
[3]. Về sự vắng mặt của bị hại: Đại diện ủy quyền của bị hại – ông Nguyễn Thọ T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị hại. Xét thấy trong hồ sơ có đầy đủ lời khai của bị hại, việc vắng mặt bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[4]. Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai đại diện bị hại, biên bản xác định hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 27/02/2024 đến ngày 08/3/2024, tại cửa hàng C2, địa chỉ TT01A-11, Khu nhà ở H, phường M, quận H, Hà Nội, thuộc Công ty TNHH V, khi đó Phùng Thị Ngọc Á đang là nhân viên tập sự bán hàng của cửa hàng C2, đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản nên đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tổng số tiền bán hàng hóa của cửa hàng là 8.733.004 đồng, rồi chi tiêu cá nhân hết. Hành vi nêu trên của Phùng Thị Ngọc Á đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Phùng Thị Ngọc Á về tội danh, điều khoản nói trên là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi trộm cắp của bị cáo Á là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo Á là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 19/8/2024, bị cáo đã nộp 8.735.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông để bồi thường cho bị hại nên được xác định là bồi thường xong cho bị hại; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn do tài sản bị chiếm đoạt là 8.733.004 đồng; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công với cách mạng, được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo còn đang là sinh viên nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly với xã hội mà cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng là phù hợp, để cho bị cáo cơ hội tiếp tục hoàn thành chương trình đào tạo đại học, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền, tuy nhiên xét thấy bị cáo còn đang là sinh viên, không có điều kiện kinh tế để thi hành hình phạt bổ sung, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về việc xử lý vật chứng đã thu giữ: 01 (một) bảng kê giao dịch bán hàng bị xóa trên máy thanh toán POS từ ngày 27/02/2024 đến ngày 08/03/2024 (bản chính); 01 (một) lịch phân công ca làm việc (bản chính); 01 (một) bộ hồ sơ nhân viên, mô tả công việc (bản chính); 01 (một) chiếc USB bằng nhựa màu đen nhãn hiệu Lexar, dung lượng 128GB, chứa 181 đoạn Video ghi lại hình ảnh Phùng Thị Ngọc Á làm việc tại quầy thu ngân vào các ngày 27/02/2024, 01-02/3/2024, 05-06-07-08/3/2024 đều do anh Nguyễn Thọ T giao nộp: Đây là các tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và hiện đang được lưu trong hồ sơ vụ án nên không tịch thu tiêu hủy mà tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[7] Về Trách nhiệm dân sự: Bị hại - Công ty TNHH V yêu cầu Phùng Thị Ngọc Á tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt 8.733.004 đồng.
Ngày 19/8/2024, Phùng Thị Ngọc Á đã nộp 8.735.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông theo Biên lai thu tiền số 0015105 để bồi thường cho bị hại, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của Phùng Thị Ngọc Á bồi thường cho Công ty TNHH V là 8.735.000 đồng.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Ngọc Á phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, phạt:
Phùng Thị Ngọc Á: 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phùng Thị Ngọc Á cho UBND xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự 2015, buộc Phùng Thị Ngọc Á phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty TNHH V là 8.733.004 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của Phùng Thị Ngọc Á đã nộp số tiền 8.735.000 (tám triệu bảy trăm ba mươi lăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền số 0015105 ngày 19/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông để bồi thường cho Công ty TNHH V.
- Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc: Phùng Thị Ngọc Á phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Mai |
Bản án số 238/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 238/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Thị Ngọc Á
