|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 238/2025/HS-ST Ngày: 18/6/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Tiến
2. Ông Lê Văn Luận.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Bà Trần Minh Phương- Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên
- Những người tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:
Ông Nguyễn Thế Q - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa;
Ông Nguyễn Văn Q1 - Kiểm sát viên VKSND thành phố Thanh Hóa.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu Trung tâm – Phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân thành phố T và điểm cầu thành phần – Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm, vụ án hình sự, thụ lý số 232/2025/TLHS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 248/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Quách Văn G; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1994, Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hoá: 07/12; Con ông: Quách Văn T (đã chết); Con bà: Quách Thị T1, sinh năm 1965; Tiền án: Ngày 15/5/2020 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong ngày 30/3/2021); Ngày 19/5/2023 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 211/2023/HS-ST (Chấp hành xong hình phạt ngày 26/6/2024); Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/3/2020 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tội Trộm cắp tài sản (Quyết định số 112/QĐ-XPHC).
Tạm giữ từ ngày 02/11/2024 chuyển tạm giam từ ngày 08/11/2024. Đến ngày 26/02/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “ Bảo lĩnh".
Ngày 29/4/2025 bắt tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T – Tại trại giam Công an tỉnh T.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Lương Thanh V - Trợ giúp viên pháp lý nhà nước;
Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.
Bị hại:
- Anh Lê Đức P, sinh năm 1978
- Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1986
- Chị Kiều Phương T2, sinh năm 2002
Địa chỉ: Khu phố D, Thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;
Tại phiên toà có mặt bị cáo và người bào chữa cho bị cáo. Vắng mặt các bị hại.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/11/2024, Quách Văn G đi bộ lang thang trong khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh T với mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi qua phòng bệnh 107 tòa nhà A7, G phát hiện anh Lê Đức P đang ngủ có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen ở đầu giường nên đã lén lút vào phòng trộm cắp chiếc điện thoại của anh P. Đi tiếp lên tầng 3 của tòa nhà, qua phòng bệnh 322, G phát hiện anh Hoàng Văn H để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12 màu bạc ở đầu giường khi anh H đang ngủ nên G đã lẻn vào phòng trộm cắp chiếc điện thoại của anh H. Sau đó G đi sang tòa nhà A, cũng với thủ đoạn tương tự, thấy chị Kiều Phương T2 đang ngủ trong phòng bệnh 402 có để 01 chiếc điện thoại Iphone XSMax màu vàng trên đầu giường nên G lẻn vào phòng trộm cắp chiếc điện thoại của chị T2 rồi nhanh chóng rời khỏi bệnh viện. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 02/11/2024 Tổ công tác Công an phường Đ phối hợp với Tổ bảo vệ Bệnh viện đa khoa tỉnh T tiến hành tuần tra kiểm soát khu vực đường H (trước cổng chính Bệnh Viện Đ) phát hiện Quách Văn G có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản nên đã yêu cầu kiểm tra, G thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp và tự nguyện giao nộp 03 chiếc điện thoại đã lấy của anh P, anh H và chị T2 trước đó tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T.
Kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 05/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản xác định: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, đã qua sử dụng trị giá 4.500.000 đồng; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo A1K màu đen, đã qua sử dụng trị giá 700.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu bạc, đã qua sử dụng trị giá 1.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp trị giá 7.000.000 đồng.
Kết luận giám định pháp y tâm thần số 67/KLGĐ ngày 16/4/2025 của V1 xác định: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can Quách Văn G bị bệnh Rối loạn cảm xúc không ổn định (suy nhược) thực tổn. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F06.6. Tại thời điểm trên bị can có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Quá trình điều tra, Quách Văn G đầu thú, thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo A1K màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu bạc, đã qua sử dụng và đã trả lại 03 chiếc điện thoại trên cho anh Lê Đức P, anh Hoàng Văn H và chị Kiều Phương T2 là chủ sở hữu hợp pháp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 168/CT-VKS ngày 26/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố Quách Văn G về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:
Áp dụng:
Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm p, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Mức hình phạt Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, đề nghị áp dụng đối với bị cáo từ 27 tháng đến 33 tháng tù.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa không có ý kiến gì về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên bản thân Quách Văn T3 là người dân tộc, hoàn cảnh gia đình khó khăn, học vấn thấp và có bệnh. Nguyên nhân dân đến phạm tội do bột phát, tài sản chiếm đoạt dưới 50 triệu đồng và quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 173; Điểm p, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
- [2] Về hành vi phạm tội:
- [3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
- [4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của các bị cáo:
- [5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên không xem xét.
- [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/11/2024, tại các phòng bệnh 107, 322 tòa nhà A và phòng bệnh 402 tòa nhà A5, Bệnh viện đa khoa tỉnh T, Quách Văn G đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Lê Đức P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen trị giá 700.000 đồng; anh Hoàng Văn H 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 12 màu bạc trị giá 1.800.000 đồng; chị Kiều Phương T2 01 chiếc điện thoại Iphone XSMax màu vàng trị giá 4.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp trị giá 7.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự (Với tình tiết định khung “ Tái phạm nguy hiểm").
Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa, truy tố các bị cáo Quách Văn G về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo có nhân thân xấu, bản thân đã nhiều lần bị xét xử, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để phấn đấu trở thành người lương thiện mà sau khi chấp hành xong hình phạt tù một thời gian ngắn, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, nên cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; đầu thú hành vi phạm tội và là người khuyết tật nặng. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm p, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm p, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Khoản 1, 2 Điều 331; Điều 333; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn G phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
Quách Văn G 30 ( Ba mươi) tháng tù, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam trước (Từ ngày 02/11/2024 đến ngày 26/02/2025).
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2025 (Ngày bắt tạm giam).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo; người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hương |
Bản án số 238/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 238/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quách Văn G
