Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/6/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Thưởng.

2. Ông Nguyễn Văn Hơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2025/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QÐST - HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa:

1.Nguyên đơn:

Chị Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1998.

Địa chỉ: ấp A, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn:

Anh Trần Quốc T, sinh năm 1998.

Địa chỉ: 2, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến và đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết M có lời trình bày:

Chị Trần Thị Tuyết M và anh Trần Quốc T quen biết và làm đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 30/3/2020. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc được khoảng 04 năm, về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nhau, hai bên đã cố gắng chịu đựng để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng đến nay mâu thuẩn trầm trọng hơn, không thể chung sống và hòa hợp trở lại, cả hai đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay.

Nay chị M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Tuệ M1, sinh ngày 15/7/2020, hiện đang sống chung với chị M, sau khi ly hôn chị M yêu cầu được quyền nuôi người con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Minh T1 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lí do nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, cho chị M được ly hôn với anh T1; về con chung giao cho chị M được quyền nuôi cháu Trần Tuệ M1, sinh ngày 15/7/2020, hiện đang sống chung với chị M, ghi nhận chị M không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho con; về tài sản chung và nợ chung chị M trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng:

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng tự nguyện có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng qui định.

Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

Chị M và anh T1 quen biết và làm đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, hôn nhân do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 30/3/2020, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Theo nguyên đơn, Thời gian đầu sống chung hạnh phúc, về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nhau, hai bên đã cố gắng chịu đựng để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng đến nay mâu thuẩn trầm trọng hơn, không thể chung sống và hòa hợp trở lại, cả hai đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Anh T2 đã nhận được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham dự phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách tuy nhiên anh không đến tham dự.

Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử nhận định nguyên đơn cương quyết ly hôn còn bị đơn dù biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng bị đơn đã bỏ mặc cho nguyên đơn tự giải quyết, không cùng nguyên đơn có các biện pháp tích cực nhằm cải thiện tình trạng hôn nhân của cả hai để kéo dài mối quan hệ hôn nhân. Như vậy tình trạng hôn nhân của cả hai đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, bị đơn tự nguyện đồng ý ly hôn với nguyên đơn vì vậy Hội đồng xét xử cần thiết phải chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn là do sự tự nguyện của nguyên đơn vì vậy cần ghi nhận.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Tuệ M1, sinh ngày 15/7/2020, hiện đang sống chung với chị M, sau khi ly hôn chị M yêu cầu được quyền nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy khi vợ chồng ly hôn, việc giao con cho ai nuôi là phải đảm bảo về mọi mặt cho con chung, đối với nguyên đơn sau khi hai vợ chồng sống ly thân chị M là người trực tiếp nuôi con chung, anh T2 không đến tòa trình bày ý kiến vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao cháu M1 cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị B không có yêu cầu anh T2 cấp dưỡng cho con vì vậy cần ghi nhận là phù hợp.

Về tài sản chung: Chị M trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Chị M trình bày không có vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Lời phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tại phiên tòa về hình thức, nội dung vụ án là phù hợp với việc xem xét, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009031 ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Tuyết M được ly hôn với anh Trần Quốc T.

    Ghi nhận chị Trần Thị Tuyết M không yêu cầu việc cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn.

  2. Về con chung:

    Chị Trần Thị Tuyết M có quyền, nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Tuệ M1, sinh ngày 15/7/2020, hiện đang sống chung với chị M.

    Ghi nhận chị Trần Thị Tuyết M không yêu cầu anh Trần Quốc T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

    Anh Trần Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ này tuy nhiên khi người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng cho con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Không có.
  4. Về nợ chung: Không có.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Trần Thị Tuyết M phải có nghĩa vụ chịu số tiền 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009031 ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Phòng TT, KT và THA TAND tỉnh BT;
  • - VKSND huyện Chợ Lách, tỉnh BT;
  • - Chi cục THADS huyện C, tỉnh BT;
  • - UBND xã T, huyện C, tỉnh BT;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Chí Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 238/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 238/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: minh -tuan
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger