Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 238/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/8/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn

Bà Nguyễn Thị Bích Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 398/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Việt K, sinh năm 1984. Nơi thường trú: M09 Khu đấu giá QSD đất K - H, phường K (quận H cũ), thành phố Hà Nội. CCCD số: [...] (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Phú T - Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, địa chỉ: số H, ngõ H, phố Đ, phường H, TP Hà Nội. (có mặt).

- Bị đơn: Chị Bùi Hồng M, sinh năm 1989. Nơi thường trú: M09 Khu đấu giá QSD đất K - H, phường K (quận H cũ), thành phố Hà Nội. Số căn cước công dân: [...] (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu tiếp theo trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn - Anh Nguyễn Việt K trình bày như sau:

- A và chị Bùi Hồng M tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 14/10/2016 tại Ủy ban nhân dân phường K, quận H cũ, TP . Hà Nội. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn: Bất đồng quan điểm sống, không hợp tính cách nên thường xuyên xảy ra cãi vã, giữa hai bên không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau.

Quá trình chung sống: hai vợ chồng sinh sống tại số I dãy M Khu đấu giá QSD đất K - H, phường K, quận H cũ (là nhà đất riêng của anh K có trước khi kết hôn). Đến cuối năm 2024, mâu thuẫn hai vợ chồng lên đến đỉnh điểm, chị M bỏ nhà ra đi mang theo cháu thứ hai là Nguyễn Phương A. Hiện nay hai mẹ con ở đâu anh K không nắm được vì chị M không báo cho anh K. Thỉnh thoảng chị M vẫn đưa cháu thứ hai về nhà anh K tại số I dãy M Khu đấu giá QSD đất K - H để anh K trông nom một thời gian rồi lại đón đi. Gần đây chị M nợ nần nhiều nên anh K đã phải trả nợ cho chị M hơn 800.000.000 đồng, chị M tiếp tục yêu cầu anh K trả cho chị 155.000.000 đồng nữa thì mới đồng ý thuận tình ly hôn. Nay anh K thấy tình cảm không còn, đề nghị Tòa án cho anh K được ly hôn chị M.

- Về con chung: Anh K và chị M có 02 con chung là: cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 14/11/2017 và cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 22/07/2020. Ly hôn, anh K đề nghị được nuôi cháu lớn Nguyễn Phương N1, chị M nuôi cháu bé Nguyễn Phương A, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về điều kiện nuôi con: Hiện nay anh K có nhà riêng tại địa chỉ M khu Đ-H, phường K, TP . Hà Nội.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với Nhà đất tại số I dãy M Khu đấu giá K, Hà Cầu là tài sản riêng của anh K theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2014, anh K không đề nghị tòa án giải quyết

- Đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị M gồm các khoản tiền:

  • + Về việc chị M trình bày anh chị có khoản tiền 700 triệu đồng gồm tiền cưới, vàng, tiền mặt để trong lợn đất, anh K xác định không có việc này, anh K trình bày khi cưới, không có ai cho vàng, tiền mừng cưới chỉ có khoảng 200 triệu đồng hai vợ chồng đã chi tiêu sinh hoạt gia đình hết. Về tiền mặt để trong lợn đất: thỉnh thoảng anh K có để một vài triệu tiết kiệm trong lợn đất nhưng chị M đã đập ra chi tiêu hết. Nếu chị M cho rằng hiện nay anh K đang giữ những khoản tiền này, anh K yêu cầu chị M xuất trình chứng cứ chứng minh. Chị M cho rằng chị M có mua 04 cây vàng và đưa cho anh K để anh K đi đầu tư làm ăn, yêu cầu anh K trả 02 cây vàng quy đổi ra là 240 triệu đồng, anh K xác định chị M nói thế không đúng, thu nhập vợ chồng chủ yếu là thu nhập đi làm của anh và tiền cho thuê nhà M7 khu đấu giá (là nhà của bố mẹ anh cho vợ chồng anh tiền thuê nhà), từ thu nhập này mà năm 2022, anh đã tiết kiệm mua được 4 cây vàng và đưa cho chị M giữ nhưng do kinh tế khó khăn nên vợ chồng đã bán đi để chi tiêu sinh hoạt gia đình.
  • + Về tiền chi tiêu sinh hoạt trong gia đình: anh K vẫn đưa tiền sinh hoạt đầy đủ cho chị M để nuôi gia đình, tại buổi hòa giải ngày 27/6/2025 anh K đã xuất trình 02 bản sổ phụ Ngân hàng chứng minh anh K đã chuyển khoản đầy đủ các khoản tiền sinh hoạt cho chị M, trong đó có tiền sinh hoạt 06 tháng từ tháng 03 năm 2024 đến tháng 8 năm 2024 anh K đã chuyển 100 triệu đồng vào ngày 27/4/2024. Hơn nữa, vào tháng 10/2023, anh K đã chuyển cho chị M số tiền 210 triệu đồng để chi tiêu sinh hoạt. Anh K không đồng ý yêu cầu của chị M đòi anh K phải trả 75 triệu đồng tiền sinh hoạt gia đình từ tháng 3/2024 đến tháng 8/2024.

Ngoài ra, chị M còn giữ tiền cho thuê nhà M7 khu đấu giá, đây là nhà của bố mẹ anh K cho hai vợ chồng tiền thuê nhà để lo cuộc sống chung vợ chồng, tiền thuê nhà hàng năm khoảng 90 triệu đồng, chị M cầm chi tiêu hết. Từ khi kết hôn đến thời điểm 2023, chị M không có việc làm, không có thu nhập. Có thời điểm năm 2023 đến năm 2024, chị M có bán hàng online nhưng anh K không biết chị M có thu nhập không vì chị M không thông báo cho anh K mà vẫn yêu cầu anh K đưa đầy đủ tiền sinh hoạt và anh K vẫn đưa đủ tiền sinh hoạt như trước. Hiện nay, anh K không có yêu cầu gì về khoản tiền này. Anh K trình bày để có căn cứ làm rõ các khoản tiền sinh hoạt gia đình từ nguồn nào mà có, chủ yếu từ thu nhập của anh K và tiền cho thuê nhà nêu trên. Bản thân anh K đã trả nợ cá nhân cho chị M rất nhiều tiền nhưng anh K không đòi chị M phải trả lại vì chị M còn nuôi con khi anh chị ly hôn.

* Bị đơn - Chị Bùi Hồng M trình bày:

- Chị và anh Nguyễn Việt K tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 14/10/2016 tại Ủy ban nhân dân phường K, quận H cũ, TP . Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị M chung sống tại M09 Khu Đ, H, Hà Nội. Theo chị M, vợ chồng anh chị không có mẫu thuẫn gì lớn, mâu thuẫn là do bạn bè của K dẫn đến anh K tự ái, sĩ diện mà đề nghị ly hôn. Từ tháng 01 năm 2025 (khoảng 27 âm lịch Tết), chị M bị chồng đuổi đi với lý do mâu thuẫn cá nhân.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của anh K, chị M có ý kiến: chị không đồng ý, với lý do vợ chồng chưa thực sự hiểu nhau, để ý đến nhau, các con còn quá bé. Tuy nhiên về phương án đoàn tụ vợ chồng, hiện nay chị M không có phương án đoàn tụ.

- Về con chung: anh chị có 02 con chung là: Nguyễn Phương N sinh ngày 14/11/2017 và Nguyễn Phương A, sinh ngày 22/07/2020, chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi con 7,5 triệu /1 tháng.

- Về điều kiện nuôi con: Nếu ly hôn, bố mẹ chị M sẽ cho chị M ở cùng tại nhà đất số nhà C N, phường T, quận T, Hà Nội đứng tên tên bố mẹ chị M là ông Bùi Xuân B và bà Lê Kim N2.

- Nghề nghiệp: Chị M đang làm việc ở phòng khám Đ, làm công việc điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân. Mức lương hàng tháng 15 triệu đồng, giữa chị M và công ty không ký hợp đồng lao động mà làm việc trên thực tế.

- Đối với Nhà 5 tầng trên đất tại số I dãy M Khu đấu giá K, Hà Cầu là tài sản riêng của anh K theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2014, vì vậy chị không đề nghị tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị M:

  • + Chị trình bày hai vợ chồng có 01 khoản tiền cưới, vàng, tiền mặt để trong lợn đất, khoảng 700 triệu đồng, tiền này anh K hiện đang giữ, đề nghị Tòa án yêu cầu anh K xuất trình. Chị xác định tiền mừng cưới là 200 triệu đồng, hai vợ chồng không chi tiêu sinh hoạt gia đình mà anh K sử dụng để đầu tư vào công ty anh K, yêu cầu anh K trả lại chị 100 triệu đồng, còn số vàng là 04 cây vàng SJC 9999 do chị M mua từ tiền tiết kiệm để lợn đất của hai vợ chồng và tiền cho thuê nhà M7 Khu đấu giá K, là nhà của bố mẹ anh K cho hai vợ chồng tiền thuê nhà, chị xác định đây là tiền chung của hai vợ chồng nhưng anh K cầm 04 cây vàng đi đầu tư, chị yêu cầu anh K phải trả lại cho chị 02 cây vàng, quy đổi ra tiền mặt là 240 triệu đồng. Chị M yêu cầu tổng số tiền yêu cầu anh K phải trả chị là 340 triệu đồng
  • + Đối với tiền chi tiêu sinh hoạt gia đình: Chị trình bày một mình chị phải chi tiêu nuôi cả gia đình, anh K không đưa tiền sinh hoạt, chị M yêu cầu anh K phải trả cho chị M tiền sinh hoạt trong 06 tháng từ tháng 03/2024 đến tháng 8/2024 là 75 triệu đồng.

* Tại phiên tòa:

- Anh K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với chị M, chị M đồng ý ly hôn với anh K.

- Về con chung: anh K và chị M thống nhất anh K là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 14/11/2017, chị Bùi Hồng M là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 22/07/2020, anh K tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Phương A 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

- Về yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của chị M: theo trình bày của chị M là 01 khoản tiền cưới, vàng, tiền mặt để trong lợn đất khoảng 700 triệu đồng; ngoài ra chị còn yêu cầu anh K phải trả cho chị tiền sinh hoạt trong 06 tháng từ tháng 03/2024 đến tháng 8/2024 là 75 triệu đồng; Tại phiên tòa, anh chị đều giữ nguyên ý kiến và yêu cầu của mình tại các lời khai;

- Đồng thời tại phiên tòa, anh K xuất trình các tài liệu sau:

  • + 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô Nissan có chữ ký bên bán của chị Bùi Hồng M, ghi nội dung số tiền đặt cọc là 180 triệu đồng, đây là khoản tiền chị M đã cầm cố xe tô tô Nissan để lấy 180 triệu.
  • + 01 Giấy biên nhận có chữ ký và chữ viết của chị Bùi Hồng M xác nhận đã vay của anh Nguyễn Văn T1 80 triệu
  • + 01 Văn bản có nội dung chữ ký và chữ viết của chị Bùi Thị M1 ghi danh sách các khoản nợ khác của chị M1 như sau: vay tín dụng T3 100 triệu, vay V 100 triệu, M2 40 triệu, vay bốc họ 50 triệu, Vay APP Viettel 30 triệu, quẹt thẻ ghi nợ 79 triệu, vay anh T2 50 triệu, vay cháu L 20 triệu, vay APP 53 triệu, tiền ông nội (Nguyễn Văn K1) cho vay: 200 triệu, tổng cộng 669 triệu.

Anh K và chị M1 đều xác định đây là các khoản nợ của cá nhân chị M1 và xác định gia đình anh K đã trả nợ toàn bộ các khoản nợ nêu trên cho chị M1, chỉ trừ khoản vay của cháu L 20 triệu và khoản vay App 50 triệu thì chưa trả.

- Tại phiên tòa, chị M1 xuất trình một tập sổ phụ kiêm báo nợ/có của Ngân hàng T3, đối với tài khoản tên Bùi Xuân B chuyển khoản số tiền 145 triệu đồng vào tài khoản của chị, chị xác nhận ông Bùi Xuân B là bố chị, chuyển tiền cho chị, không chuyển tiền cho anh K. Chị trình bày trong thời kỳ hôn nhân chị có bán hàng online, thu nhập khoảng 8 triệu đồng/tháng.

- Về án phí: Anh K tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh K nhất trí với ý kiến trình bày của anh K. Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh K, bác yêu cầu chia tài sản chung của chị M1.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án. Các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của anh K và chị M1, công nhận sự thỏa thuận của anh K và chị M1 anh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 14/11/2017, chị Bùi Hồng M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 22/07/2020, anh K tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Phương A 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Về yêu cầu chia tài sản chung của chị M: đề nghị Tòa án không chấp nhận vì không có căn cứ; về án phí: Đề nghị buộc các đương sự phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Việt K có đơn xin ly hôn chị Bùi Hồng M, chị M có địa chỉ thường trú tại M09 Khu đấu giá QSD đất K - H, phường K, TP. Hà Nội, vì vậy Tòa án nhân dân quận Hà Đông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội) giải quyết vụ án theo thẩm quyền quy định tại khoản 3 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có mặt, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Việt K và yêu cầu chia tài sản chung của chị M:

3.1.Về quan hệ hôn nhân:

Anh Nguyễn Việt K và chị Bùi Hồng M tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 14/11/2016 tại Ủy ban nhân dân phường K (quận H cũ), TP Hà Nội (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 123/2016 ngày 14/10/2016) vì vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ số I dãy M Khu đấu giá K, H (là nhà đất riêng của anh K có trước khi kết hôn). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Anh K trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính cách nên thường xuyên xảy ra cãi vã, giữa hai bên không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Đến cuối năm 2024, mâu thuẫn hai vợ chồng lên đến đỉnh điểm, chị M bỏ nhà ra đi mang theo con chung thứ hai là Nguyễn Phương A. Anh chị đã ly thân từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Khi chị M bỏ nhà đi, chị M nợ cá nhân nhiều, anh K đã phải trả nợ cho chị M, nay, anh K kiên quyết xin ly hôn, chị M không muốn ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn của anh chị không có gì lớn nhưng thực tế, chị M đã đi khỏi nhà và sống ở nơi khác, anh chị đã ly thân, không quan tâm chăm sóc nhau, chị M không có biện pháp để hàn gắn tình cảm với với K, anh K kiên quyết xin ly hôn. Tại biên bản làm việc với tổ dân phố số B, phường K về mâu thuẫn vợ chồng của anh K, chị M, tổ dân phố cho biết tổ dân phố không nắm được mâu thuẫn của anh chị nhưng hiện nay chị M không còn chung sống với anh K, chị M đã đi đâu tổ dân phố không nắm được. Tại phiên tòa, anh K kiên quyết ly hôn, chị M cũng đồng ý ly hôn.

Xét: anh chị mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Tại phiên tòa, anh K kiên quyết ly hôn, chị M đồng ý ly hôn. Vì vậy cần ghi nhận anh chị thuận tình ly hôn để anh chị có điều kiện tạo dựng cuộc sống mới.

3.2. Về con chung: Anh K và chị M có 02 con chung là: cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 14/11/2017 và cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 22/07/2020. Tại phiên tòa, anh chị đã thỏa thuận anh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 14/11/2017; chị Bùi Hồng M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 22/07/2020. Anh K tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Phương A 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác nên cần ghi nhận. Con chung là cháu Nguyễn Phương N (trên 07 tuổi) có ý kiến xin được ở với bố là anh Nguyễn Việt K.

Xét: Anh K và chị M đều đủ điều kiện nuôi con, anh chị đều có nhà ở (anh K có nhà riêng, chị M được bố mẹ đẻ cho ở cùng), nguyện vọng nuôi con của anh chị là chính đáng, vì vậy cần ghi nhận sự thỏa thuận của anh chị.

3.3. Xét yêu cầu chia tài sản chung của chị M:

  • + Chị M cho rằng tài sản chung của anh chị có khoảng 700 triệu đồng trong đó có tiền mừng cưới là 200 triệu đồng, 04 cây vàng SJC 999 quy đổi ra tiền mặt là khoảng 480 triệu đồng đến 500 triệu đồng. Anh K cũng xác nhận anh chị có tiền mừng cưới 200 triệu đồng và 04 cây vàng tiết kiệm. Mặc dù hai anh chị không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì nhưng lời khai của hai anh chị thống nhất, nên xác định anh chị có tài sản chung là 200 triệu đồng là tiền mừng cưới và 04 cây vàng tiết kiệm. Anh chị đều xác nhận hiện nay số tiền, vàng này không còn. Vì vậy, xác định tài sản chung là số tiền, vàng này hiện nay anh chị không còn.

Chị M trình bày vàng được mua từ tiền thuê nhà thuê nhà M Khu Đ bố mẹ chồng cho và từ tiền tiết kiệm của hai vợ chồng. Anh K cũng trình bày vàng tiết kiệm từ tiền thuê nhà do bố mẹ anh cho và từ thu nhập do công việc của anh. Như vậy nguồn tiền mua vàng hai anh chị xác nhận từ tiền thuê nhà thuê nhà M7 Khu đấu giá Kiến Hưng do bố mẹ anh K cho, còn lại anh K cho rằng là từ thu nhập của anh, do chị M không có việc làm, chị M cho rằng còn lại do thu nhập chung vợ chồng. Xét thu nhập của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân đều tính là thu nhập chung của vợ chồng, vì vậy nguồn tiền mua vàng là từ tiền thuê nhà do bố mẹ anh K cho và thu nhập chung vợ chồng, anh K có công sức nhiều hơn trong số tài sản này do một phần nguồn tiền mua vàng từ tiền thuê nhà do bố mẹ anh K cho.

Đến nay, số tiền và vàng này không còn. Anh K cho rằng cả hai vợ chồng đã cùng chi tiêu số tiền, vàng vào sinh hoạt chung vợ chồng. Chị M cho rằng anh K đã sử dụng toàn bộ số tiền, vàng này để đầu tư riêng nhưng không có bất kỳ tài liệu chứng cứ gì chứng minh một mình anh K sử dụng toàn bộ số tiền, vàng cho mục đích cá nhân, không vì cuộc sống, sinh hoạt chung vợ chồng.

Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu chia số tiền, vàng như đã nêu trên của chị M.

  • + Về yêu cầu của chị M đòi anh K phải trả tiền sinh hoạt trong 06 tháng từ tháng 03/2024 đến tháng 8/2024 là 75 triệu đồng.

Xét: lý do chị M yêu cầu anh K phải trả tiền sinh hoạt trong 06 tháng từ tháng 03/2024 đến tháng 8/2024 là 75 triệu đồng là do anh K không đưa tiền sinh hoạt cho chị trong khoảng thời gian đó. Anh K trình bày đã đưa đủ tiền sinh hoạt trong toàn bộ quá trình anh chị chung sống.

Hồ sơ vụ án thể hiện anh K có hợp đồng lao động ký kết ngày 02/01/2020 với công ty cổ phần D với chức danh Phó Giám đốc kiêm trường phòng IT, anh K xuất trình 07 sổ phụ Ngân hàng chứng minh đã chuyển khoản 2 tỷ 500 triệu đồng cho chị M từ tháng 11/2019 đến khoảng tháng 7/2025 để chi tiêu sinh hoạt gia đình. Chị M khai chị kinh doanh online và tại phiên tòa chị xuất trình sao kê ngân hàng và trình bày thu nhập của chị khoảng 8 triệu đồng/tháng. Chị M khai hiện nay chị làm việc tại Phòng khám Đ, hai bên không ký hợp đồng lao động mà chỉ làm việc trên thực tế nhưng không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì chứng minh thu nhập.

Xét: tiền chi tiêu sinh hoạt là tiền hai vợ chồng cùng đóng góp theo khả năng của mỗi bên để cùng lo toan, chi tiêu cho cuộc sống chung, không phải là khoản vay nên không có nghĩa vụ phải trả nợ cho nhau. Do đó yêu cầu của chị M đòi anh K phải thanh toán số tiền 75 triệu tiền sinh hoạt từ trong 06 tháng từ tháng 03/2024 đến tháng 8/2024 là 75 triệu đồng là không có căn cứ. Mặt khác, chị M cũng xác nhận tiền chi tiêu sinh hoạt gia đình trong thời kỳ hôn nhân của anh chị một phần tiền thuê nhà bố mẹ anh K cho hai vợ chồng, anh K xuất trình hợp đồng lao động ký kết ngày 02/01/2020 với công ty cổ phần D miền B trong đó anh K có chức danh Phó Giám đốc kiêm trường phòng IT, anh K xuất trình 07 sổ phụ Ngân hàng chứng minh đã chuyển khoản 2 tỷ 500 triệu đồng cho chị M từ tháng 11/2019 đến khoảng tháng 7/2025 để chi tiêu sinh hoạt gia đình

3.4. Về nợ chung: quá trình giải quyết vụ án, anh K và chị M đều xác nhận anh chị không có nợ chung. Tại phiên tòa, chị M phát sinh yêu cầu chia nợ chung nhưng khi anh K xuất trình danh sách các khoản nợ do chị M viết và ký thì chị M xác nhận đây là các khoản nợ riêng của chị và xác nhận gia đình anh K đã trả nợ cho chị số tiền khoảng 800 triệu đồng, tuy nhiên chị vẫn đưa ra yêu cầu chia nợ chung nhưng không trình bày nợ chung là nợ gì, của ai, đồng thời tại phiên tòa chị mới phát sinh yêu cầu này nên dành quyền khởi kiện cho chị M trong một vụ án khác;

[4]. Về án phí: Anh K tự nguyện chịu số tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng và phải nộp số tiền án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng. Chị M không phải nộp án phí đối với yêu cầu chia tài sản chung không được chấp nhận theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 59, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Việt K và chị Bùi Hồng M.
  2. Về con chung: Anh Nguyễn Việt K và chị Bùi Hồng M có 02 con chung là: Nguyễn Phương N, sinh ngày 14/11/2017 và Nguyễn Phương A, sinh ngày 22/07/2020.

Công nhận sự thỏa thuận của anh Nguyễn Việt K và chị Bùi Hồng M: giao con chung Nguyễn Phương N cho anh Nguyễn Việt K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Phương A cho chị Bùi Hồng M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Việt K tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung Nguyễn Phương A số tiền 5.000.000 triệu đồng/tháng cho đến khi con chung Nguyễn Phương A đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Anh Nguyễn Việt K và chị Bùi Hồng M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

  1. Về tài sản chung, nợ chung:
  • + Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu của chị M yêu cầu chia tài sản chung là số tiền mừng cưới 200 triệu đồng và 04 cây vàng tiết kiệm, không chấp nhận yêu cầu của chị M đòi anh K phải trả số tiền 75 triệu đồng là tiền sinh hoạt trong 06 tháng từ tháng 03/2024 đến tháng 8/2024.
  • + Về nợ chung: Giành quyền khởi kiện cho anh Nguyễn Việt K và chị Bùi Hồng M trong 01 vụ án khác.
  1. Về án phí: Anh Nguyễn Việt K tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và phải nộp số tiền án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí anh K đã nộp tại biên lai số 0045385 ngày 02/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội - nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - TP Hà Nội. Xác nhận anh K đã nộp đủ án phí. Chị Bùi Hồng M không phải nộp án phí.
  2. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Việt K và chị Bùi Hồng M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 6, Hà Nội;
  • - Thi hành án DS khu vực 6, Hà Nội
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - THA DS TP Hà Nội.
  • - UBND phường Kiến Hưng, Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 238/2025/HNGĐ-ST ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 238/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA 238-20.8.25 Kh -M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger