|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 238/2024/HS-PT
Ngày: 07/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ký
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Quyên
Ông Trần Nam Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 75/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo Trần Quốc Bảo N do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 550/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Quốc Bảo N, sinh năm 1996 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Số F, tổ B, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc N1, sinh năm 1972 và bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1976; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 11/4/2022 đến ngày 20/4/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Bị cáo có mặt.
- Bị hại có kháng cáo:
Anh Văn Công Nhật T, sinh năm 1991 và chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1997, địa chỉ: 1, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Hẻm E, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có đơn xin vắng mặt).
Ngoài ra còn có các bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Quang M, Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoàng L không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 10/4/2022, Nguyễn Văn P đang chơi tại tiệm Game bắn cá 3979 thuộc phường B, thành phố B thì nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản, do không có xe nên P gọi điện thoại cho Trần Quang M, nhờ M đến chở P đi đến nhà người quen để lấy đồ, thì M đồng ý và M rủ thêm Trần Quốc Bảo N đi cùng.
N điều khiển xe mô tô biển số 60N6-2366 chở M đến Tiệm game bắn cá 3979 chở P đi đến phường T, thành phố B theo chỉ dẫn của P. Khi đi ngang qua khu nhà trọ địa chỉ 17/5, khu phố C, phường T, thành phố B thì P phát hiện thấy phòng trọ của vợ chồng anh Văn Công N2 T khoá cửa ngoài nên P nói N dừng xe lại đứng ở ngoài chờ còn P đi vào trong khu nhà trọ lấy móc phơi quần áo cột các cửa phòng trọ kế bên lại nhằm mục đích không cho những người trong các phòng trọ bên cạnh ra ngoài. Sau đó, P nhặt một cái búa ở gần phòng trọ đập ổ khoá cửa phòng trọ của anh T. Nghe tiếng đập khoá cửa thì M, N biết P đập khoá để trộm cắp tài sản nên M đi vào cùng với P để trộm cắp tài sản, còn N đứng ngoài trông xe và cảnh giới.
M đi vào thấy P đã đập bung ổ khoá mở cửa phòng trọ đi vào bên trong và bật đèn nên M đi vào trong phòng trọ cùng với P lục tìm tài sản. P trộm cắp được 01 (một) sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bằng bạc để trên tủ quần áo; 01 (một) điện thoại Iphone 7Plus, 01 (Một) đôi bông tai bằng vàng 610 và 01 (Một) đôi bông tai bằng vàng trắng để ở trên gác, còn M trộm cắp được 01 giỏ xách treo ở cửa bên trong có 01 (một) điện thoại di động N3; 01 (một) sợi dây chuyền vàng màu trắng và 01 nhẫn vàng màu trắng. Sau đó, P đưa điện thoại Iphone 7plus cho M giữ rồi cùng M lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 72C1-311.06 đẩy ra ngoài. Sau khi lấy được tài sản, thì N điều khiển xe mô tô biển số 60N6-2366 chở M đi về nhà của M tại khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, còn P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 72C1-311.06 trộm cắp được đi về hướng phường T, thành phố B.
Trên đường đi P gọi điện thoại cho Nguyễn Quang V nói cho V biết là mới trộm cắp được 01 xe mô tô hiệu SH và nhờ V bán giúp thì V đồng ý. V nói với P chạy xe mô tô đến nhà V tại khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để V tìm khách bán lại. Nghe vậy, P chạy xe mô tô biển số 72C1-311.06 đến nhà V và để xe mô tô lại. Sau đó, V gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng L đến chở về phòng trọ của L, L đồng ý rồi mượn xe mô tô (không rõ biển số) là xe của bạn gái của L mới quen tên V1 (không rõ nhân thân) đến chở P về phòng trọ của L tại phường B, thành phố B ngủ.
Đến sáng cùng ngày, P nói cho L biết vừa mới trộm cắp xe mô tô biển số 72C1-311.06 đang gửi ở nhà của Nguyễn Quang V để nhờ V bán giúp và một số tài sản tại khu vực sân banh BaTi, rồi P lấy số tài sản trộm cắp được ra cho L xem gồm: 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, 01 đôi bông tay bằng kim loại màu trắng, 01 sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bằng bạc. Sau đó, P nhờ L chở qua nhà V để bán chiếc mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 72C1-311.06 mà P trộm cắp được rồi P sẽ cho L tiền đổ xăng và tiền công thì L đồng ý. L điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở P đi đến nhà V. Khi đến nhà V, thì V nói cho P biết là xe chỉ bán được khoảng 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nhưng phải chờ tìm người mua. Liêm nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 72C1-311.06 mà P trộm cắp được đang dựng ở trong sân nhà của V và nghe được việc trao đổi bán xe giữa V với P.
Do xe mô tô chưa bán được nên P nói L chở về phòng trọ của L chơi. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, V gọi điện thoại cho L và nói xe mô tô của P trộm cắp tối qua đã bị Công an đến thu giữ và nhờ L báo cho P biết. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì P, L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B mời về làm việc. Tại Cơ quan điều tra thì P, L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Sau đó thì N, M, V bị bắt giữ để điều tra xử lý. Quá trình điều tra, P, M, N, V và L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) USB chứa đoạn video ghi lại hình ảnh các đối tượng trộm cắp tài sản xảy ra ngày 10/4/2022. 01 (Một) xe mô tô biển số 72C2-311.06, 01 (Một) điện thoại di động Iphone 7Plus, 01 (Một) đôi bông tai bằng vàng, 01 (Một) đôi bông tai bằng vàng trắng; 01 (một) sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bằng bạc thuộc sở hữu của anh Văn Công Nhật T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh T. 01 (một) giỏ xách; 01 (một) điện thoại di động N3; 01 (một) sợi dây chuyền màu trắng và 01 (một) nhẫn màu trắng, không thu hồi được do Trần Quang M đã vứt bỏ ở dưới sông. 01 (một) xe mô tô biển số 60N6-2366 là của chị Phan Thị M1 (Là mẹ ruột của M) cho Minh m nhưng chị M1 không biết M sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ. 01 (Một) xe mô tô biển số 60H5-035.39 của Nguyễn Quang V do ông Nguyễn Văn S1 (Là cha ruột của V) giao nộp. Do không có liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông S1. 01 (một) xe mô tô không rõ biển số, xe Liêm mượn của bạn gái tên V1 (không rõ nhân thân) sau khi chở P đi bán xe mô tô biển số 72C2-311.06 do P trộm cắp mà có thì L đã trả lại cho V1, do không xác minh được nhân thân lai lịch của V1 nên không thu giữ được. 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1208 của Trần Quốc Bảo N do không có liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho N. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENOZ6 của Nguyễn Hoàng L do không có liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho L.
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 1257/TCKH-HĐĐG ngày 14/4/2022, của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt được định giá là 64.658.150 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 550/2023/HSST ngày 29/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố B căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc Bảo N 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 năm tù; xử phạt bị cáo Trần Quang M 02 năm 06 tháng tù cùng về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 01 năm 04 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 11 tháng 28 ngày tù cùng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo Nguyễn Hoàng L được trả tự do ngay tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Quang M, Trần Quốc Bảo N liên đới bồi thường cho anh Văn Công N2 T và chị Nguyễn Thị T1 số tiền 21.700.800đ. Cụ thể: Mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh T và chị T1 số tiền 7.233.600đ.
Ngày 05/10/2023, bị hại có đơn “Xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” có nội dung xác nhận bị cáo Trần Quốc Bảo N đã bồi thường cho bị hại số tiền là 17.000.000₫.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo luật định.
Ngày 06 tháng 10 năm 2023 và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc Bảo N kháng cáo xin hưởng án treo với nội dung: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường xong bị hại số tiền 17.000.000₫ theo bản án sơ thẩm tuyên.
Ngày 06/6/2023, bị hại Văn Công Nhật T, Nguyễn Thị T1 kháng cáo xin cho bị cáo Trần Quốc Bảo N được hưởng hình phạt khoan hồng của pháp luật vì bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 17.000.000đ, bị cáo ăn năn hối cải, cha mẹ đã già yếu.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bị cáo N có vai trò giúp sức chở bị cáo P, đứng ngoài trông xe và cảnh giới cho P, M thực hiện hành vi phạm tội. Vai trò của bị cáo N thấp hơn vai trò của P và M. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo N và gia đình đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 17.000.000 đồng, được gia đình bị hại bãi nại và làm đơn kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo N có nhân thân tốt,
chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, được bị hại làm đơn bãi nại, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi dưỡng cha mẹ già theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết, cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo và bị hại là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ vào Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo N và bị hại. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 550/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo và bị hại: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận, vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 10/4/2022 tại 17/5, Khu phố C, phường T, thành phố B, bị cáo Nguyễn Văn P, bị cáo Trần Quang M, Trần Quốc Bảo N đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô SH biển số 72C1-311.06, 01 điện thoại Iphone 7 Plus, 01 đôi bông tai bằng vàng, 01 đôi bông tai bạch kim,01 dây chuyền bạc và mặt dây chuyền, 01 giỏ xách, 01 điện thoại Nokia 3310, 01 dây chuyền bạch kim dạng xoắn có hình bông tuyết, 01 nhẫn bạch kim, có tổng giá trị định giá tài sản là 64.658.150 đồng của vợ chồng anh Văn Công N2 T và chị Nguyễn Thị T1.
Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 72C1-311.06, bị cáo P nhờ bị cáo V bán. Bị cáo V, bị cáo L biết xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 72C1-311.06 là tài sản do bị cáo P trộm cắp mà có nhưng bị cáo V, bị L vẫn đồng ý tìm cách tiêu thụ tài sản cho bị cáo P. Tài sản chưa bán được thì các bị cáo bắt giữ để điều tra xử lý. Cấp sơ thẩm xem xét tính chất mức độ, vai trò phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo, xử phạt bị cáo Trần Quốc Bảo N 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 năm tù; xử phạt bị cáo Trần Quang M 02 năm 06 tháng tù cùng về tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 01 năm 04 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 11 tháng 28 ngày tù cùng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với bị cáo Trần Quốc Bảo N, cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo chưa tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội với vai trò giúp sức thấp hơn bị cáo P và bị cáo M. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo N cung cấp chứng cứ mới đã bồi thường cho bị hại số tiền 17.000.000₫ được bị hại xác nhận, bị hại có bãi bại và kháng cáo xin hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án khoan hồng, tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc cha mẹ là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Như vậy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s, khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, sửa bản án hình sự sơ thẩm số án số 550/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về dân sự: Bản án sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Quang M, Trần Quốc Bảo N liên đới bồi thường cho bị hại tổng cộng 21.700.800đ, trong đó, mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại 7.233.600đ là có căn cứ. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Quốc Bảo N đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 17.000.000₫ là vượt quá số tiền bị cáo N phải bồi thường nên được ghi nhận. Bị cáo N thi hành xong trách nhiệm dân sự mà bản án sơ thẩm đã tuyên. Số tiền còn lại số tiền 21.700.800₫ - 7.233.600đ = 14.467.200đ cần buộc bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Quang M liên đới bồi thường bị hại, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 7.233.600đ. Do vậy cần sửa bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự và án phí.
[3] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[4] Về án phí: Mỗi bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Quang M, Trần Quốc Bảo N, Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoàng L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Mỗi bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Quang M phải chịu 361.680đ án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Trần Quốc Bảo N và bị hại Văn Công Nhật T, Trần Thị T2 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357; Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc Bảo N và kháng cáo của bị hại Văn Công Nhật T, Trần Thị T2, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 550/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai về hình phạt và án phí.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Xử phạt bị cáo Trần Quốc Bảo N 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Quốc Bảo N cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584; Điều 585; Điều 686; Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Quang M phải bồi thường cho bị hại Văn Công Nhật T, Trần Thị T2 tổng cộng 14.467.200đ, trong đó bị cáo P phải bồi thường số tiền 7.233.600₫ (Bảy triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm đồng), bị cáo M phải bồi thường số tiền 7.233.600đ (bảy triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Mỗi bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Quang M, Trần Quốc Bảo N, Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoàng L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Mỗi bị cáo Nguyễn Văn P, Trần Quang M phải nộp 361.680₫ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Quốc Bảo N và bị hại Văn Công Nhật T, Trần Thị T2 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ký |
Bản án số 238/2024/HS-PT ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 238/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Quốc Bảo N phạm tội Trộm cắp tài sản
