TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 238/2024/DS-ST Ngày 16 – 8 – 2024 “V/v tranh chấp đòi lại tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Linh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Hà Trọng Tâm |
| Ông Võ Thanh Liêm |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng – Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 411/2024/TLST- DS ngày 20/6/2024 về việc tranh chấp đòi tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 355/2024/QĐXXST- DS ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Cao Thị C, sinh năm 1967. Địa chỉ nơi cư trú: Ấp X, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1977. Địa chỉ nơi cư trú: Ấp X, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1977. Địa chỉ nơi cư trú: Ấp X, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 16/01/2023, bà có nhờ bà Bùi Thị N chơi hụi giùm một chân hụi 1.000.000 đồng, do bà Nguyễn Thi Q làm chủ hụi, hụi ba mươi lâm chân, bà đã đưa tiền cho bà N đóng hụi được 15 lần bằng số tiền 8.961.000 đồng; hụi mở vào ngày 16/01/2023, hụi mãn thời gian nào bà không biết. Bà không trực tiếp giao dịch hụi với bà Q mà bà giao dịch tực tiếp với bà N về việc đóng tiền hụi, bỏ hụi, bà N đã hốt hụi của bà. Việc giao dịch nợ hụi với nhau bằng lời nói, không có tài liệu, chứng cứ gì để giao nộp cho Tòa án. Nay bà yêu cầu bà Bùi Thị N trả số tiền 15.000.000 đồng. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác.
Theo đơn phản tố, quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa bị đơn bị đơn trình bày:
Bà có chơi hụi giùm bà Cao Thị C hai chân hụi 500.000 đồng, một dây hụi 500.000 đồng do bà Tư T làm chủ đã mãn, không còn liên quan gì đến bà Tư T và bà C đã nhận tiền rồi, còn một dây hụi 500.000 đồng chơi chỗ bà Nguyễn Thị Q1 là chủ bà đã hốt hụi và đã đưa tiền cho bà C xong nhưng bà C không đóng hụi chết cho bà để bà đóng hụi chết cho bà Q1, bà yêu cầu bà cam đóng hụi chết cho bà 08 tháng x 500.000 đồng = 4.000.000 đồng. Do giao dịch hụi giữa bà C với bà được thực hiện bằng lời nói, không có giấy tờ gì thể hiện, nên bà không có tài liệu, chứng cứ gì để giao nộp cho Tòa án. Khi bà Q1 giao tiền có mặt bà C thì bà Q1 mới đồng ý. Bà không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C. Bà yêu cầu bà C trả số tiền 4.000.000 đồng để bà đóng hụi cho bà Q1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L trình bày: Giao dịch hụi giữa vợ ông là bà Bùi Thị N với bà C, ông không biết, không liên quan gì đến ông. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền tòa án giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp đòi lại tài sản theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, nên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2] Bà Nguyễn Thị Q2 xin khước từ tham gia tố tụng trong vụ án. Xét thấy, việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của bà Q1 nên bà Q1 xin khước từ tham gia tố tụng trong vụ án là có cơ sở, nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn cho rằng là chổ chị em bạn dâu với nhau nên có nhờ bị đơn chơi hụi giùm một chân hụi 1.000.000 đồng, do bà Nguyễn Thi Q làm chủ hụi, hụi ba mươi lâm chân, bà đã đưa tiền cho bị đơn được 15 lần bằng số tiền 8.961.000 đồng; hụi mở vào ngày 16/01/2023, hụi mãn thời gian nào nguyên đơn không biết, bị đơn đã hốt hụi, nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 15.000.000 đồng, bị đơn không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn cho rằng có nhờ bị đơn chơi giùm một chân hụi 1.000.000 đồng, do bà Nguyễn Thi Q làm chủ hụi, hụi ba mươi lâm chân, nguyên đơn đã đưa tiền cho bị đơn được 15 lần bằng số tiền 8.961.000 đồng, nên yêu cầu bị đơn trả số tiền 15.000.000 đồng. Bị đơn không thừa nhận và bà Q cho rằng giao dịch hụi giữa nguyên đơn và bị đơn có hay không bà không biết, không liên quan gì đến bà Q2.
Xét thấy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 15.000.000 đồng, nhưng nguyên đơn không chứng minh được lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên không được chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn:
Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự nên đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, về việc yêu cầu nguyên đơn trả số tiền 4.000.000 đồng là phù hợp. Đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các 26, 35, 39, 40, 147, 244, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị C, về việc yêu cầu bị đơn bà Bùi Thị N trả số tiền 15.000.000 đồng.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của bị đơn Bùi Thị N, về việc yêu cầu nguyên đơn bà Cao Thị C trả số tiền 4.000.000 đồng.
- Về án phí: Buộc bà Cao Thị C phải chịu án dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 750.000 đồng. Ngày 20/6/2024, bà Cao Thị C đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 375.000.000 đồng theo biên lai thu số 0008877 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ chuyển thu công quỹ nhà nước, bà Cao Thị C còn phải nộp tiếp số tiền 375.000 đồng. Ngày 22/7/2024, bà Bùi Thị N đã dự nộp tạm ứng án phí tổng số tiền 300.000.000 đồng theo biên lai thu số 0009099 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được trả lại cho bà N khi bản án có hiệu lực.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Linh |
3
4
Bản án số 238/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 238/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu.
