|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 209/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/8/2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Mai Khanh và ông Trần Xuân Thành
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Bằng Giang – Kiểm sát viên
Ngày 11/8/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1987. Địa chỉ: xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Hoàng Đức H, sinh năm 1987. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/4/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị P trình bày: Chị Hoàng Thị P và anh Hoàng Đức H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 31/10/2011 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Anh Hoàng Đức H không tin tưởng vợ, nghe lời xúi dục của người ngoài dẫn đến về nhà gây căng thẳng trong gia đình. Vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã. Đến khoảng năm 2019 thì anh Hoàng Đức H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Kể từ đây, vợ chồng không còn liên lạc và không còn quan tâm đến nhau nữa. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Hoàng Thị P thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị Hoàng Thị P được ly hôn với anh Hoàng Đức H.
Về con chung: vợ chồng có ba con chung, gồm: cháu Hoàng Nhật Duy A, sinh ngày 14/4/2012, cháu Hoàng Nhật Thiên Â, sinh ngày 09/9/2013, cháu Hoàng Nhật Đăng K, sinh ngày 23/02/2017. Các cháu hiện đang ở với chị Hoàng Thị P. Nếu vợ chồng ly hôn, nguyện vọng của chị Hoàng Thị P là được nuôi con và không yêu cầu anh Hoàng Đức H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Hoàng Đức H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Hoàng Đức H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho anh Hoàng Đức H thông qua bà Hoàng Thị T là mẹ đẻ của anh Hoàng Đức H; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của anh H nhưng hiện tại anh Hoàng Đức H vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Theo biên bản xác minh của Tòa án đối với bà Hoàng Thị T là mẹ đẻ của anh Hoàng Đức H thì hiện nay anh Hoàng Đức H đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Anh Hoàng Đức H thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng bà T không biết địa chỉ cụ thể của anh Hoàng Đức H để cung cấp cho Tòa án. Bà T đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh H biết. Anh H đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại đơn trình bày, cháu Hoàng Nhật Duy A, cháu Hoàng Nhật Thiên  có nguyện vọng được ở với mẹ Hoàng Thị P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Trong vụ án này, nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn anh Hoàng Đức H mà không cung cấp được địa chỉ ở nước ngoài, nhưng thông qua lời khai của bà Hoàng Thị T thì có căn cứ xác định bị đơn vẫn liên lạc với gia đình. Gia đình đã thông báo cho bị đơn biết Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị P nhưng bị đơn không cung cấp địa chỉ cho bà T nên bà không cung cấp được địa chỉ của anh Hoàng Đức H cho Tòa án. Anh H biết việc chị P làm đơn xin ly hôn nhưng không gửi ý kiến về cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là có cơ sở.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Hoàng Thị P được ly hôn anh Hoàng Đức H. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Hoàng Nhật Duy A, sinh ngày 14/4/2012, cháu Hoàng Nhật Thiên Â, sinh ngày 09/9/2013, cháu Hoàng Nhật Đăng K, sinh ngày 23/02/2017 cho chị Hoàng Thị P chăm sóc nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, cần tuyên quyền khởi kiện cho đương sự khi có yêu cầu. Chị Hoàng Thị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Công văn số 6379/QLXNC-P5 ngày 24/3/2023 của Cục Q Bộ C và lời trình bày của bà Hoàng Thị T là mẹ đẻ của anh Hoàng Đức H thì có căn cứ xác định hiện nay anh Hoàng Đức H đang cư trú tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh H cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh H cho Tòa án. Do đó, việc anh Hoàng Đức H vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Hoàng Đức H đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Hoàng Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị P và anh Hoàng Đức H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Anh Hoàng Đức H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Vợ chồng sống xa nhau và thiếu tin tưởng lẫn nhau nên tình cảm ngày càng phai nhạt. Nay, chị P thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Tòa án đã thông báo cho anh H biết chị P xin ly hôn với anh H thông qua bà Hoàng Thị T là mẹ đẻ của anh H nhưng anh H cũng không có ý kiến, không liên lạc với Tòa án thể hiện mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Do đó, xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị P, anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Hoàng Thị P được ly hôn với anh Hoàng Đức H.
[3] Về con chung: vợ chồng có ba con chung là cháu Hoàng Nhật Duy A, sinh ngày 14/4/2012; cháu Hoàng Nhật Thiên Â, sinh ngày 09/9/2013; cháu Hoàng Nhật Đăng K, sinh ngày 23/02/2017. Các cháu hiện đang ở với chị Hoàng Thị P. Anh Hoàng Đức H hiện đang ở nước ngoài, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị Hoàng Thị P đang ở Việt Nam, có nguyện vọng được nuôi con và bản thân cháu Duy A và cháu Thiên  cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung chưa thành niên cần giao cho chị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Hoàng Nhật Duy A, Hoàng Nhật Thiên Â, Hoàng Nhật Đăng K là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Hoàng Đức H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị P không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Hoàng Đức H chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[5] Về án phí: Chị Hoàng Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: cho chị Hoàng Thị P và anh Hoàng Đức H được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Hoàng Nhật Duy A, sinh ngày 14/4/2012, cháu Hoàng Nhật Thiên Â, sinh ngày 09/9/2013 và cháu Hoàng Nhật Đăng K, sinh ngày 23/02/2017 cho chị Hoàng Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị P chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Anh Hoàng Đức H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012720 ngày 14/3/2023. Chị Hoàng Thị P đã nộp đủ án phí.
- Nguyên đơn chị Hoàng Thị P vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Bị đơn anh Hoàng Đức H đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒÀ Nguyễn Thị Thu Từ |
Bản án số 209/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 209/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện ly hôn anh H; yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung; tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
