|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2374/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07-11-2023
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Triều
- Bà Lê Thị Nhanh
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 135/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4276/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13566/2023/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Vương Q, sinh năm 1987 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: 3, 1-16-2 Bell T M, K, S, J.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: G Khu phố T, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên hệ: 39 Tổ C, Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 17 tháng 10 năm 2022 và Bản tự khai ngày 17 tháng 10 năm 2022 nguyên đơn ông Trần Vương Q trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Ánh H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 66 Quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11 tháng 9 năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình, quan điểm không phù hợp. Năm 2016, ông sang Nhật Bản làm việc, bà H ở lại Việt Nam. Hiện nay hai bên không liên lạc với nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh H.
Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị Ánh H có một con chung tên Trần Ngọc Bảo T, sinh ngày 17/02/2015, con chung hiện nay do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông đồng ý giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng cho con 5.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh H được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các thủ tục tống đạt triệu tập đương sự hợp lệ theo quy định nhưng không có lời khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Vương Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ông Trần Vương Q khai không còn tình cảm với bà Nguyễn Thị Ánh H, cuộc sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn của ông Trần Vương Q là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Theo ông Q khai thì ông và bà Nguyễn Thị Ánh H có 01 con chung tên Trần Ngọc Bảo T, sinh ngày 17/02/2015, hiện con chung do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T và ông Q đồng ý giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định của trẻ, đề nghị Hội đồng xét xử giao con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về yêu cầu cấp dưỡng: Ông Q tự nguyện cấp dưỡng cho con 5.000.000 đồng/tháng. Xét đây là sự tự nguyện của ông Q nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền của Tòa án:
Ông Trần Vương Q là nguyên đơn hiện đang cư trú tại Nhật Bản, bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh H cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại nước ngoài, bị đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Ông Trần Vương Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Vương Q.
Đối với bà Nguyễn Thị Ánh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Ánh H.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Ông Trần Vương Q và bà Nguyễn Thị Ánh H tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 66 Quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11 tháng 9 năm 2014 nên là hôn nhân hợp pháp.
[2.1] Về yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Vương Q, Hội đồng xét xử xét thấy:
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên một thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về tính tình, quan điểm sống. Năm 2016, ông Q sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, bà Nguyễn Thị Ánh H ở lại Việt Nam, hai bên sống riêng từ đó đến nay. Nay ông Trần Vương Q xác nhận không còn tình cảm với bà Nguyễn Thị Ánh H, nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Về phía bà Nguyễn Thị Ánh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng không nhận được trả lời của bà Nguyễn Thị Ánh H. Điều này cho thấy bà Nguyễn Thị Ánh H không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với ông Q, như vậy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của ông Trần Vương Q xin ly hôn bà Nguyễn Thị Ánh H là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Ông Trần Vương Q và bà Nguyễn Thị Ánh H có 01 con chung tên Trần Ngọc Bảo T, sinh ngày 17/02/2015 (nữ). Con chung hiện do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, ông Q đồng ý giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng và để đảm bảo cuộc sống ổn định của trẻ, nghĩ cần giao con chung tên Trần Ngọc Bảo T cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận ông Trần Vương Q tự nguyện cấp dưỡng cho con là 5.000.000 đồng/tháng.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Vương Q khai không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí:
Ông Trần Vương Q là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật và án phí cấp dưỡng định kỳ theo mức án phí không có giá giá ngạch là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 479, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa ông Trần Vương Q và bà Nguyễn Thị Ánh H.
2. Về con chung:
Giao con chung tên Trần Ngọc Bảo T, sinh ngày 17/02/2015 cho bà Nguyễn Thị Ánh H trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Trần Vương Q có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 07/11/2023.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Khi có căn cứ, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm:
Ông Trần Vương Q chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000494 ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Ông Trần Vương Q đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Ông Trần Vương Q còn phải nộp thêm 300.000 đồng án phí cấp dưỡng định kỳ.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Uyên |
Bản án số 2374/2023/HNGĐ-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 2374/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
