Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2370/2024/DS-ST

Ngày: 10-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Hương
  2. Ông Phạm Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử B Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2220/2023TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2985/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X.

Trụ sở: Tầng H Tòa nhà V, số G đường L, phường B, Quận A, Tp ..

Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Đặng P, sinh năm 1988 (có mặt)

( Văn bản ủy quyền ngày 10/6/2024)

Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Hải Y, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Ông Lê Hoài V, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: B đường H, tổ G, khu phố 1, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện ủy quyền: Ông Phạm Bính K (có mặt)

Địa chỉ: A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1983 (có đơn vắng mặt)

Địa chỉ: A T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY:

2

Trong đơn khởi kiện ngày 13/7/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 07/02/2023 và lời khai tại tòa, nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần X (gọi tắt Ngân hàng E ) trình bày:

Ngày 17/01/2020, Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh B ký Hợp đồng tín dụng từng lần số 2103-LAV-200005535 cho ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), mục đích vay mua xe ô tô con. Ông V và bà Y đã nhận nợ theo Khế ước nhận nợ số 2103LDS200000130 ngày 17/01/2020 với nội dung: Số tiền vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), thời hạn vay 36 tháng kể từ ngày 17/01/2020 đến ngày 17/01/2023. Trả nợ gốc vào ngày 17 hàng tháng, số tiền mỗi kỳ trả 27.780.000 đồng/kỳ và kỳ trả nợ gốc cuối cùng phải trả hết số nợ gốc còn lại của khoản vay; lãi suất cho vay 12,5%/năm cố định trong năm đầu tiên (sau đó lãi suất thay đổi 1 tháng/1 lần), trả lãi vào ngày 17 hàng tháng; lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay. Mục đích vay thanh toán tiền mua xe PEUGEOT TRAVELL, biển số 51H-082.37. Tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng trên là xe ô tô con nhãn hiệu PEUGEOT, số loại TRAVELL, biển số 51H-082.37, số khung 3AA6KC114366, số máy 0DY2W4000363 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông V và bà Y theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 546137 do Công an T2 cấp ngày 13/01/2020 (Theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 13/2020/EIB-BT/CN/TC ngày 16/01/2020; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp ngày 21/01/2020; đăng ký giao dịch bảo đảm số 1358345727 ngày 17/01/2020 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh).

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông V, bà Y nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ, chậm trả lãi và gốc cho Ngân hàng. Từ ngày 17/7/2021 ông V, bà Y ngưng thanh toán nợ gốc, lãi theo thỏa thuận và đến nay khoản nợ đã quá hạn thanh toán. Ngân hàng nhiều lần yêu cầu ông V, bà Y trả nợ nhưng ông V, bà Y không có thiện chí hợp tác trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 09/5/2024, ông V và bà Y còn nợ gốc 499.960.000 đồng, lãi trong hạn 51.170.674, lãi quá hạn 197.276.999 và lãi phạt lãi chậm trả là 11.538.580 đồng. Tổng cộng 759.946.253 đồng.

Ngân hàng E yêu cầu ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y phải trả ngay cho Ngân hàng E số tiền tạm tính đến ngày 09/5/2024 là 759.946.253 đồng, và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần số 2103-LAV-200005535 ngày 17/01/2020 cho đến khi trả dứt nợ trên.

Trường hợp ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y không trả nợ, trả không đủ số nợ thì Ngân hàng E có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu PEUGEOT, số loại TRAVELL, biển số 51H-082.37, số khung 3AA6KC114366, số máy 0DY2W4000363 và các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y. Nếu giá trị tài sản bảo đảm không thu hồi đủ nợ thì ông V và bà Y tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi xong nợ

3

Đại diện ủy quyền của bị đơn ông V và bà Y trình bày: Ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y có vay tiền Ngân hàng TMCP X và thế chấp chiếc xe ô tô hiệu PEUGEOT, biển số 51H-082.37, số khung 3AA6KC114366, số máy 0DY2W4000363 như phía đại diện nguyên đơn trình bày.

Về xe ô tô đã thế chấp cho Ngân hàng E: sau khi mua xe, ông V giao xe cho ông Lê Minh T ( người làm ăn chung với ông V) sử dụng, đi lại hàng ngày. Ngày 26/10/2021 ông T bị bệnh chết. Sau khi ông T chết, ông V không thấy xe ở công ty nữa. Qua tìm hiểu thì được biết ông T đã cầm xe cho một người tên T1 ở T ( không rõ họ tên, địa chỉ, có số điện thoại 0908.229.xxx), không rõ cầm bao nhiêu tiền. Ông V chưa gặp ông T1 này lần nào. Anh V1 nhân viên Ngân hàng E biết sự việc này. Khoảng tháng 11/2021, anh V1 có báo cho ông V biết còn nợ Ngân hàng E số tiền 750.000.000 đồng. Ông V có xin bảng kê chi tiết công nợ nhưng Ngân hàng E không cung cấp. Đến tháng 4/2022, anh V1 có yêu cầu ông V ra phòng công chứng ký hợp đồng ủy quyền chiếc xe cho ông T1 nhưng không nói rõ giá trị xe, nợ ông T1 bao nhiêu, ông V phải trả Ngân hàng E nữa không nên ông V không đồng ý ra công chứng ký ủy quyền cho ông T1. Hiện ông V, bà Y đều không biết ông T1 ở đâu, không biết hiện nay xe đang ở đâu. Hiện ông V, bà Y khó khăn về kinh tế do công ty không còn hoạt động sau khi ông T chết, nên đề nghị Ngân hàng E chỉ thu tiền nợ gốc và giảm, miễn lãi, lãi quá hạn và tiền phạt. Đồng thời khoanh nợ với số tiền gốc 499.960.000 đồng, hỗ trợ bị đơn truy tìm và thu hồi xe để giải quyết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp với Ngân hàng E.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai H trình bày: Bà là vợ ông Lê Minh T ( chết ngày 26/10/25021). Bà hoàn toàn không biết việc làm ăn và xe ô tô giữa ông T và ông Lê Hoài V, bà Huỳnh Thị Hải Y. Việc ông T cam kết trả nợ cho ông V, bà Y, bà cũng không biết và không liên quan đến sự việc này. Bà không có trách nhiệm trong vụ tranh chấp này. Bà có đơn xin vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa:

Đại diện Ngân hàng E yêu cầu ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y trả ngay số tiền gốc còn nợ là 499.960.000 đồng, lãi tính đến ngày 10/6/2024 là 269.033.173 đồng (lãi trong hạn 51.170.674 đồng, lãi quá hạn 205.875.300 đồng và lãi phạt lãi chậm trả 11.987.199 đồng) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần số 2103-LAV-200005535 ngày 17/01/2020 cho đến khi trả dứt nợ trên. Trường hợp ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y không trả nợ, trả không đủ số nợ thì Ngân hàng E có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu PEUGEOT, số loại TRAVELL, biển số 51H-082.37, số khung 3AA6KC114366, số máy 0DY2W4000363 và các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y. Nếu giá trị tài sản bảo đảm không thu hồi đủ nợ thì ông V và bà Y tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi xong nợ.

4

Đại diện ủy quyền bị đơn xác nhận bị đơn có vay khoản vay và thế chấp xe ô tô như đại diện nguyên đơn trình bày. Đây là khoản vay bị đơn vay dùm cho ông Lê Minh T. Xe ông T sử dụng. Việc vay dùm và giao xe cho ông T sử dụng không có giấy tờ. Bị đơn đồng ý trả nợ gốc 499.960.000 đồng, còn khoản lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt lãi chậm trả đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định.

Bà Nguyễn Thị Mai H vắng mặt

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo qui định của pháp luật.
  • Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự, đại diện ủy quyền đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, văn bản ủy quyền hợp lệ.
  • Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng thương mại cổ phần X kiện đòi ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y trả số tiền vay và lãi nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo qui định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và bị đơn cư trú tại phường T, thành phố T nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mai H có đơn xin vắng mặt tại các phiên xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bà H theo qui định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Căn cứ Hợp đồng tín dụng từng lần số 2103-LAV-200005535 ngày 17/01/2020 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần X với ông Lê Hoài V, bà Huỳnh Thị Hải Y và Khế ước nhận nợ số 2103LDS200000130 ngày 17/01/2020 có cơ sở để xác định ông V và bà Y có vay Ngân hàng số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng (từ ngày 17/01/2020 đến ngày 17/01/2023), trả lãi tiền vay 01tháng/1 lần, nợ gốc trả thành nhiều kỳ, mỗi kỳ cách nhau 1 tháng, số tiền mỗi kỳ trả 27.780.000 đồng vào ngày 17 hàng tháng. Kỳ đầu tiên trả gốc và lãi là ngày 17/02/2020. Lãi suất cho vay 12,5%/năm trong năm đầu. Từ năm thứ hai, lãi suất thay đổi 1 tháng/1lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay

5

trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả 10%/năm.

Đại diện ủy quyền bị đơn xác nhận còn nợ Ngân hàng E số nợ gốc 499.960.000 đồng. Các khoản nợ lãi khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo qui định.

Căn cứ Điều 3 Hợp đồng tín dụng từng lần số 2103-LAV-200005535 ngày 17/01/2020 và mục 6, mục 7 Khế ước nhận nợ số 2103-LDS-200000130 ngày 17/01/2020 giữa Ngân hàng E với ông V, bà Y qui định về lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn, lãi suất trên số tiền lãi chậm trả thì Bảng tổng hợp gốc, lãi thì tính đến ngày 10/6/2024 đối với khoản nợ của ông V và bà Y thể hiện còn nợ gốc 499.960.000 đồng và lãi trong hạn 51.170.674 đồng, lãi quá hạn 205.875.300 đồng và lãi phạt lãi chậm trả 11.987.199 đồng là đúng qui định.

Xét việc ông V, bà Y không thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng E theo thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm hợp đồng, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng E nên yêu cầu của Ngân hàng E buộc ông V, bà Y trả số nợ gốc 499.960.000 đồng, lãi trong hạn 51.170.674 đồng, lãi quá hạn 205.875.300 đồng và lãi phạt lãi chậm trả 11.987.199 đồng và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ này là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Căn cứ Hợp đồng thế chấp số 13/2020/EIB-BT/CN/TC ngày 16/01/2020 và Biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 21/01/2020, ông V và bà Y đã thế chấp xe ô tô con nhãn hiệu PEUGEOT, số loại TRAVELL, biển số 51H-082.37, số khung 3AA6KC114366, số máy 0DY2W4000363 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông V và bà Y theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 546137 do Công an T2 cấp ngày 13/01/2020 để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của ông bà với Ngân hàng E bao gồm nhưng không giới hạn các nghĩa vụ trả nợ sau: nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn, phí, khoản phạt, các khoản Ngân hàng E đã ứng trước trả thay cho bên thế chấp, khoản bồi thường thiệt hại ( nếu có).

Căn cứ Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 17/01/2020 và Phụ lục thông tin về tài sản thế chấp là phương tiện giao thông của Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận thì xe ô tô nêu trên được đăng ký biện pháp bảo đảm từ thời điểm 7 giờ 50 ngày 17/01/2020 cho Ngân hàng E. Như vậy Hợp đồng thế chấp số 13/2020/EIB-BT/CN/TC ngày 16/01/2020 và Biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 21/01/2020 giữa ông V, bà Y với Ngân hàng E có hiệu lực.

Theo lời khai của các đương sự đều không xác định được hiện nay tài sản thế chấp đang ở đâu, ai đang quản lý, sử dụng. Tòa án không thực hiện được việc xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Tuy nhiên theo điểm c khoản 2 Điều 6 Hợp đồng thế chấp ngày 16/01/2020 qui định “ Bên thế chấp có nghĩa vụ thông báo cho E biết về việc cho thuê, cho mượn tài sản trong thời gian tài sản đang đảm bảo tại E ..” và điểm g khoản 2 Điều 6 Hợp đồng thế chấp ngày 16/01/2020 qui định “ Trong thời hạn thế chấp, Bên thế chấp được sử dụng tài sản thế chấp này và phải có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp...Không được bán, chuyển nhượng, trao đổi, tặng, cho, góp vốn hay đem

6

tài sản thế chấp đi đảm bảo bất cứ một nghĩa vụ nào khác mà không có văn bản chấp nhận của E. Nếu xảy ra mất mát, hư hỏng tài sản thế chấp thì Bên thế chấp vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho E”.

Đại diện bị đơn có lời khai bị đơn giao xe cho ông Lê Minh T sử dụng đến khi ông T chết thì không biết xe ở đâu, ai đang quản lý sử dụng. Xét việc bị đơn giao xe cho ông T sử dụng không thông báo cho Ngân hàng E biết, đồng thời không thực hiện tốt nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn nên đây là lỗi của bị đơn. Do đó yêu cầu của Ngân hàng E về việc yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu PEUGEOT, số loại TRAVELL, biển số 51H-082.37, số khung 3AA6KC114366, số máy 0DY2W4000363 theo Hợp đồng thế chấp số 13/2020/EIB-BT/CN/TC ngày 16/01/2020 và Biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 21/01/2020 giữa ông V, bà Y với Ngân hàng E để thu hồi nợ trong trường hợp ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y không thanh toán hết số nợ trên cho Ngân hàng E và tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán toàn bộ khoản nợ là có cơ sở chấp nhận.

[4]. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 1.000.000 đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần X tự nguyện chịu và đã nộp đủ.

[5] Án phí: Ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y phải nộp án phí trên số tiền 768.993.174 đồng là (20.000.000 đồng + 4% x 368.993.174 đồng) = 34.759.727 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần X không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần X tạm ứng án phí đã nộp 13.385.846 đồng theo biên lai số AA/2022/0008235 ngày 24/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy phát biểu của kiểm sát viên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 131, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng các điều 317, 319, 320, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần X số nợ gốc 499.960.000 đồng,

7

lãi trong hạn 51.170.674 đồng, lãi quá hạn 205.875.300 đồng và lãi phạt lãi chậm trả 11.987.199 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Tổng cộng 768.993.174 đồng (Bảy trăm sáu mươi tám triệu chín trăm chín mươi ba ngàn một trăm bảy mươi bốn đồng).

Khi ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y thanh toán hết toàn bộ số nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần X thì Ngân hàng thương mại cổ phần X có trách nhiệm trả lại cho ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 546137 do Phòng C - Công an T2 cấp ngày 13/01/2020.

Trường hợp ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y không thanh toán hết số nợ trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần X thì Ngân hàng thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu PEUGEOT, số loại TRAVELL, biển số 51H-082.37, số khung 3AA6KC114366, số máy 0DY2W4000363 theo Hợp đồng thế chấp số 13/2020/EIB-BT/CN/TC ngày 16/01/2020 và Biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 21/01/2020 giữa ông V, bà Y với Ngân hàng thương mại cổ phần X để thu hồi nợ.

Ông Lê Hoài V, bà Huỳnh Thị Hải Y tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp giá trị tài sản bảo đảm nêu trên không đủ thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần X.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 10/6/2024, ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần số 2103-LAV-200005535 ngày 17/01/2020 và Khế ước nhận nợ số 2103LDS200000130 ngày 17/01/2020. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng từng lần, Khế ước nhận nợ các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông V, bà Y phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, Ngân hàng thương mại cổ phần X đã nộp đủ.

3. Án phí: Ông Lê Hoài V và bà Huỳnh Thị Hải Y phải nộp án phí 34.759.727 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần X tạm ứng án phí đã nộp 13.385.846 đồng theo biên lai số AA/2022/0008235 ngày 24/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2370/2024/DS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 2370/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NH TMCP N yêu cầu ông V, bà Y trả gốc và lãi vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger