1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 237/2024/HS-ST Ngày 31-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Dũng
Bà Hoàng Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 224/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Ngọc D;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm 2000, tại Thanh Hóa; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: SN 01/01/421 H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Ngọc T và bà Nguyễn Thị T1; Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 02 anh em; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 23/6/2020 tại Bản án số 79/2020/HSST của TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” ; Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/10/2021. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 28/01/2024. Có mặt tại phiên tòa.
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1981
- Anh Nguyễn Trọng N (tên gọi khác Nguyễn Trọng C) sinh 1983
- Chị Hoàng Thị Ngọc M, sinh năm 1992
Địa chỉ: Số nhà G, Nguyễn T3, p. Ð, Tp ., tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Số nhà G, Nguyễn T3, p. Đ, Tp ., tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Phố T, phường Đ, Tp ., tỉnh Thanh Hóa
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mục đích vụ lợi Dương Ngọc D đã sử dụng tiền cá nhân cho một số người dân trên địa bàn T vay tiền với lãi suất 5.000 đồng/triệu/ngày tương ứng với lãi suất 182.5%/năm vượt quá 9,1 lần so với mức lãi suất tại Điều 468 BLDS.
Dương Ngọc D và các khách vay thỏa thuận với nhau khi cho vay D sẽ cắt trước 01 tháng tiền lãi và 01 tháng tính là 30 ngày. Từ tháng 01/2022 đến hết tháng 8/2023 hành vi phạm tội cụ thể của Dương Ngọc D như sau:
- Ngày 01/01/2022 Dương Ngọc D cho Nguyễn Trọng N vay số tiền 30.000.000đ, D thu lãi trước 4.500.000 đ, Năm thực nhận 25.500.000 đồng, N đã trả lãi cho D đến hết 4/2023 (16 tháng) thì không còn khả năng thanh toán lãi nên hai bên thỏa thuận không thanh toán lãi và trả dần tiền gốc cho D. Tổng số tiền lãi D đã thu của N là 72.000.000đ trong đó thu lời bất chính là 64.109.590 đồng. Năm đã trả được 19.000.000 đ tiền gốc, còn nợ lại 11.000.000đ tiền gốc.
- Ngày 01/3/2023 Dương Ngọc D cho Nguyễn Trọng T2 vay số tiền 5.000.000đ, D thu lãi trước 750.000 đồng, T2 thực nhận 4.250.000 đồng. T2 trả lãi cho D 10 tháng số tiền 7.500.000 đồng trong đó thu lời bất chính 6.670.000 đ. T2 chưa trả tiền gốc cho khoản vay trên.
- Ngày 01/8/2023 Dương Ngọc D cho Hoàng Thị Ngọc M vay số tiền 15.000.000 đồng, D thu lãi trước 2.250.000 đồng, M thực nhận 12.750.000 đồng. M đã trả lãi cho D đến hết ngày 30/11/2023 (04 tháng) tương ứng số tiền 9.000.000 đồng trong đó thu lời bất chính là 8.013.699 đồng. M chưa trả số tiền gốc cho khoản vay trên.
Tổng số tiền Dương Ngọc D cho vay là 50.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi D đã thu được của các khách vay là 88.500.000 đồng, trong đó số tiền lãi được nhận theo đúng quy định tại Điều 468 BLDS là 9.698.673 đồng, số tiền thu lời bất chính là 78.801.327 đồng.
Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra D đã tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra 02 giấy mượn tiền của anh Nguyễn Trọng N và Nguyễn Trọng T2.
Về dân sự: Anh Tú, anh N và chị Ngọc M không yêu cầu trả lại số tiền thu lời bất chính.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Ngọc D đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 153/CT-VKSTPTH ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Dương Ngọc Duy về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201của Bộ luật hình sự .
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Ngọc D. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36 và Điều 48 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Dương Ngọc D mức án từ: 21 tháng đến 27 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo mức từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ số tiền dùng vào việc phạm tội theo quy định và số tiền lãi thu lợi phát sinh từ tội phạm của bị cáo.
Buộc bị cáo Dương Ngọc D phải trả lại số tiền thu lời bất chính đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ và liên quan số tiền là: 78.801.327 đồng (Số tiền bị cáo đã thu): Trong đó: Nguyễn Trọng N là 64.109.590 đồng; Nguyễn Trọng T2: 6.670.000 đ; Hoàng Thị Ngọc M là 8.013.699 đồng
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo luật định
Bị cáo Dương Ngọc D không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Dương Ngọc D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do có mục đích vụ lợi nên từ tháng 01/2022 đến tháng 8/2023 Dương Ngọc D đã có hành vi cho vay lãi nặng đối với một số người trên địa bàn thành phố T với lãi suất 5.000 đ/1.000.000đ/ngày tương đương với lãi suất 182.5%/năm cao gấp 9,1 lần so với lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. D cho khách hàng vay theo hình thức trả lãi mỗi tháng một lần, một tháng quy ước là 30 ngày. Với tổng số tiền đã cho 03 người vay là 50.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu là: 88.500.000đ trong đó số tiền lãi thu theo quy định tại Điều 468 BLDS 20%/năm là 9.698.673 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 78.801.327 đồng.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Dương Ngọc D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tài sản. Mặc dù bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi cho vay tiền để hưởng số tiền lãi vượt quá lãi suất mà pháp luật quy định. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo cũng như giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo bị xử phạt cải tạo không giam giữ phải bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền gốc là khoản tiền bị cáo sử dụng cho vay 50.000.000 đồng là phương tiện phạm tội, do cả 3 người vay chưa trả đủ lại cho bị cáo. Nên cần tịch thu từ bị cáo số tiền gốc 19.000.000 đồng
- Đối với số tiền lãi 20%/năm mà bị cáo thu lợi phát sinh từ tội phạm là 9.698.673 đồng cần tịch thu tại bị cáo để sung vào Ngân sách Nhà nước;
- Đối với số tiền lãi suất trên mức lãi suất theo quy định 20%/năm mà bị cáo thu lợi bất chính từ người vay là: 78.801.327 đồng nên buộc bị cáo trả lại cho những người vay, cụ thể: buộc bị cáo trả lại cho anh N số tiền : 64.109.600 đ (làm tròn); anh T2: 6.670.000 đồng; chị M: 8.013.700 đ (làm tròn)
Cần tịch thu sung quỹ số tiền gốc từ người vay, cụ thể: Tịch thu từ anh N 11.000.000₫ ; anh T2: 5.000.000 đồng; chị M: 15.000.000 đồng.
Tổng số tiền tịch thu từ bị cáo là: 28.698.000 đồng (làm tròn)
[7] Về các vấn đề khác: Tháng 4/2022 D cho anh Nguyễn Tuấn D1 vay 01 gói vay hình thức vay thăm số tiền 20.000.000đ, lãi suất 4.000đ/1.000.000đ/ngày thanh toán gốc và lãi trong 50 ngày, mỗi ngày D1 trả 400.000đ kể từ ngày vay tiền. Khi cho vay D cắt trước số tiền lãi 4.000.000đ. Tính đến thời điểm phát hiện tội phạm đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính và số tiền thu lời bất chính dưới mức quy định theo NQ01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TANDTC nên không có căn cứ xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1, 3 Điều 201; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36; Điều 47; Điều 48 của BLHS; Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Bị cáo Dương Ngọc D 24 (hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi 27 ngày (do đã tạm giữ bị cáo 09 ngày, từ ngày 19/01/2024 đến ngày 28/01/2024). Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại bị cáo phải chấp hành là 23 tháng 03 ngày.
Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Dương Ngọc D cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
* Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Dương Ngọc D.
* Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Dương Ngọc D 80.000.000 đồng ( bảy mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước
* Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu từ bị cáo là: 28.698.000 đồng (làm tròn)
- Tịch thu sung quỹ số tiền gốc từ người vay chưa trả cho bị cáo, cụ thể: Tịch thu từ anh Nguyễn Trọng N (tên gọi khác Nguyễn Trọng C) số tiền: 11.000.000đ; anh Nguyễn Trọng T2: 5.000.000 đồng; chị Hoàng Thị Ngọc M: 15.000.000 đồng.
- Trả lại cho người vay số tiền lãi suất trên mức lãi suất theo quy định 20%/năm mà bị cáo thu lợi bất chính từ người vay là: 78.801.327 đồng nên buộc bị cáo trả lại cho những người vay, cụ thể: buộc bị cáo trả lại cho anh N số tiền : 64.109.600 đ (làm tròn); anh T2: 6.670.000 đồng; chị M: 8.013.700 đ (làm tròn)
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi tương ứng đối với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán, theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Bị cáo Dương Ngọc D phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Số: /2024/TB-TA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tp.Thanh Hóa, ngày 18 tháng 6 năm 2024 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 237/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử đối với bị cáo Dương Ngọc D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm 2000, tại Thanh Hóa; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: SN 01/01/421 H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
Về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự do lỗi đánh máy cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
Nội dung tại dòng 13 từ dưới lên của trang số 06 của Bản án ghi: “Phạt tiền bị cáo Dương Ngọc D 80.000.000 đồng ( bảy mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước”
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
“Phạt tiền bị cáo Dương Ngọc D 70.000.000 đồng ( bảy mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước”
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Ninh Thị Khánh Tân |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút, ngày 31 tháng 5 năm 2024
Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc D2
Bà Hoàng Thị H1
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 224/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Dương Ngọc D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm 2000, tại Thanh Hóa; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: SN 01/01/421 H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
- Về tội danh: Bị cáo Dương Ngọc D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về điều luật áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 201; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36; Điều 47; Điều 48 của BLHS; Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án
- Về mức hình phạt Xử phạt: Bị cáo Dương Ngọc D 24 (hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi 27 ngày (do đã tạm giữ bị cáo 09 ngày, từ ngày 19/01/2024 đến ngày 28/01/2024). Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại bị cáo phải chấp hành là 23 tháng 03 ngày.
- Về khấu trừ thu nhập, hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp:
- * Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Dương Ngọc D.
- * Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Dương Ngọc D 80.000.000 đồng ( bảy mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước
- * Về biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu từ bị cáo là: 28.698.000 đồng (làm tròn)
- - Tịch thu sung quỹ số tiền gốc từ người vay chưa trả cho bị cáo, cụ thể: Tịch thu từ anh Nguyễn Trọng N (tên gọi khác Nguyễn Trọng C) số tiền: 11.000.000đ; anh Nguyễn Trọng T2: 5.000.000 đồng; chị Hoàng Thị Ngọc M: 15.000.000 đồng.
- - Trả lại cho người vay số tiền lãi suất trên mức lãi suất theo quy định 20%/năm mà bị cáo thu lợi bất chính từ người vay là: 78.801.327 đồng nên buộc bị cáo trả lại cho những người vay, cụ thể: buộc bị cáo trả lại cho anh N số tiền : 64.109.600 đ (làm tròn); anh T2: 6.670.000 đồng; chị M: 8.013.700 đ (làm tròn)
- Về án phí và quyền kháng cáo:
- - Về án phí: Bị cáo Dương Ngọc D phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Dương Ngọc D cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi tương ứng đối với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán, theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Nghị án kết thúc vào hồi giờ 00 phút, ngày 31 tháng 5 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 237/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 237/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Ngọc D cho vay lãi nặng trong giao dịch ds
