Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 237/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26/8/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến

Bà Lê Thị Minh Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 233/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐ-ST ngày 26/7/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện V, (nay là TDP C, phường T, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số B -20-11-302 M, W, Nagano-shi, N-ken, Nhật Bản.

- Người đại diện theo ủy quyền của chị H nhận văn bản tố tụng của Tòa án: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970. Địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q - Luật sư Văn phòng L và cộng sự. Địa chỉ: Số H, đường N, phường T, TP B, tỉnh Bắc Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt, gửi bài luận cứ).

* Bị đơn: Anh Thân Ngọc T1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện V (nay là TDP C, phường T, thị xã V), tỉnh Bắc Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ngân hàng N1, chi nhánh Khu công nghiệp Đ, Bắc Giang do ông Lâm Văn K - Giám đốc đại diện theo ủy quyền. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970. Địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Thân Ngọc T1 kết hôn với nhau ngày 29/10/2007 và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó do anh T1 không chú tâm làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn. Đến tháng 7/2018, chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản để trang trải kinh tế gia đình, cải thiện cuộc sống, anh T1 ở nhà không cho các con liên lạc với chị, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm đến cuộc sống và công việc của nhau. Tháng 6/2023, chị về Việt Nam thăm gia đình nhưng sinh sống tại nhà mẹ đẻ ở thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, không chung sống với anh T1. Chị H xác định vợ chồng anh chị mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thân Ngọc T1.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Thân Ngọc Q1, sinh ngày 18/10/2008 và Thân Ngọc H1, sinh ngày 12/12/2013. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thân Ngọc H1 hoặc đề nghị được nuôi cả hai con chung. Chị không đề nghị anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Thân Ngọc T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn ngày 29/10/2007 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc cho đến 16/7/2018 thì chị H đi Nhật Bản làm ăn. Từ khi chị H đi nước ngoài lao động vợ chồng không quan tâm đến nhau, không gặp nhau. Khi về nước chị H không về nhà anh mà ở nhà mẹ đẻ ở T. Anh xác định vợ chồng mâu thuẫn từ tháng 11 năm 2017 do tính cách không hợp nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Thân Ngọc Q1, sinh ngày 18/10/2008 và Thân Ngọc H1, sinh ngày 12/12/2013. Khi ly hôn, anh đề nghị được nuôi cả hai con chung do chị H hiện đang lao động ở nước ngoài, khi nào chị H về nước thì các con ở với ai là do các cháu quyết định. Anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh đề nghị chị H phải có trách nhiệm trả khoản nợ tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh K và trả lại cho mẹ anh G chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp.

Ngày 08/7/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang nhận được Bản tự khai đề ngày 19/6/2024 của anh Thân Ngọc T1 do dịch vụ bưu chính chuyển đến. Tại Bản tự khai anh T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Thân Ngọc Q1, sinh ngày 18/10/2008 và Thân Ngọc H1, sinh ngày 12/12/2013. Hiện nay, cháu H1 đang ở cùng anh. Khi ly hôn anh đề nghị tòa án hỏi ý kiến của các con chung xem có nhu cầu muốn ở với bố hay với mẹ, anh tôn trọng ý kiến của hai con vì hiện tại bản thân anh đang có nhiều bệnh nên không thể làm việc và có thể chăm sóc các cháu được tốt.

Về công nợ chung: Ngày 19/6/2024, chị H đã ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T thanh toán toàn bộ khoản vay tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh K nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết công nợ chung.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày:

Chị H và anh T1 có hai con chung là cháu Thân Ngọc Q1, sinh ngày 18/10/2008 và cháu Thân Ngọc H1, sinh ngày 12/12/2013. Cháu Q1 hiện đang sống cùng bà ở N, T còn cháu H1 nguyện vọng vẫn muốn ở cùng mẹ và bà ngoại nhưng do anh T1 không cho cháu về thăm bà ngoại cũng như không cho gia đình bà thăm gặp cháu nên hiện nay cháu đang ở cùng anh T1. Bản thân anh T1 sức khỏe yếu, hay uống rượu không đảm bảo việc chăm sóc các cháu. Nên nếu chị H và anh T1 ly hôn, các cháu có nguyện vọng muốn tiếp tục ở với mẹ và ông bà ngoại thì gia đình bà đồng ý. Bà đồng ý thay mặt chị H chăm sóc, giáo dục các cháu khi chị H vắng mặt tại địa phương, khi nào chị H về nước thì chị H sẽ trực tiếp nuôi hai con.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng N1 – Chi nhánh K trình bày:

Chị Nguyễn Thị H và anh Thân Ngọc T2 đang có khoản nợ quá hạn từ ngày 17/3/2020 tại Ngân hàng với hạn mức tín dụng là 200.000.000đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2502LAV201701274 ngày 31/7/2017. Mục đích sử dụng tiền vay: Chi phí sản xuất kinh doanh đời sống của gia đình. Tạm tính đến ngày 10/11/2023, bà H và ông T2 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 328.092.692 đồng (trong đó: nợ gốc là 190.000.000đồng, nợ lãi là 125.422.946 đồng, số tiền phạt chậm trả là 12.669.746 đồng). Ngân hàng yêu cầu chị H và anh T2 phải trả tổng số tiền 328.092.692 đồng và toàn bộ nợ gốc, lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 11/11/2023 cho đến khi trả hết nợ.

Ngày 25/6/2024, Ngân hàng N1 – Chi nhánh K có đơn xin rút yêu cầu độc lập nêu trên do khách hàng đã trả hết nợ.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thu thập được tài liệu chứng cứ sau:

Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/11/2023, cháu Thân Ngọc Q1 trình bày: Hiện cháu đang học lớp 10 tại trường Cao đẳng kỹ thuật công nghiệp Bắc Giang. Mẹ cháu hiện đang đi nước ngoài nhưng vẫn quan tâm đến việc học của cháu, vẫn thường xuyên gọi điện về cho cháu và em cháu. Nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2023, cháu Thân Ngọc H1 trình bày: Hiện cháu đang học lớp 5C tại trường tiểu học xã T, huyện V, Bắc Giang. Mẹ cháu hiện đang đi nước ngoài nhưng gọi điện về hỏi thăm sức khỏe của cháu. Cháu đang ở cùng bố và tự đi học vì nhà ở gần trường. Nếu bố mẹ cháu không chung sống cùng nhau nữa thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ và bà ngoại.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiến. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Thân Ngọc T1.

Về con chung: Giao cháu Thân Ngọc Q1, sinh ngày 18/10/2008 và cháu Thân Ngọc H1, sinh ngày 12/12/2013 cho chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác của pháp luật nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị Nguyễn Thị H về Việt Nam sinh sống. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.

Đình chỉ yêu cầu độc lập của ngân hàng N1 - Chi nhánh khu công nghiệp Đ về việc: Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Thân Ngọc T1 phải trả tổng số tiền nợ là 328.092.692 đồng (trong đó: nợ gốc là 190.000.000đồng, nợ lãi là 125.422.946 đồng, số tiền phạt chậm trả là 12.669.746 đồng) và toàn bộ nợ lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2502LAV201701274 ngày 31/7/2017 đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 11/11/2023 cho đến khi trả hết nợ.

Về tài sản chung và công nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N1 - Chi nhánh K số tiền 7.500.000đồng tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu chị Nguyễn Thị H gửi từ nước ngoài đến Tòa án: Do Bản tự khai, Giấy ủy quyền và đơn xin giải quyết vắng mặt của chị H gửi đến Tòa án có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu này để giải quyết vụ án.

[2]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị H là người Việt Nam có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Thân Ngọc T1. Tại thời điểm giải quyết vụ án, chị H đang ở nước ngoài. Căn cứ công văn số: 20613/QLXNC-P5 ngày 09/8/2023 của Cục Q2 - Bộ C thì chị Nguyễn Thị H đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 21/5/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Bị đơn anh Thân Ngọc T1 có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án được Toà án nhân dân huyện Việt Yên thụ lý số 135 ngày 08/05/2023 và có Quyết định chuyển vụ án số 02/2023/QĐ-CVA ngày 29/9/2023 đến Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang để giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tất cả các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thân Thị H2 và anh Thân Ngọc T1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29/10/2007 tại UBND xã T, huyện V (nay là thị xã V) nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị H2 xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh T1. Xem xét đơn khởi kiện của chị H2, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ khi chị H2 đi lao động ở nước ngoài, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm đến nhau từ năm 2018 cho đến nay. Anh T1 cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm và đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H2 và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H2, xử cho chị H2 được ly hôn với anh T1.

[5]. Về con chung: Chị H2 và anh T1 có hai con chung là cháu Thân Ngọc Q1, sinh ngày 18/10/2008 và cháu Thân Ngọc H1, sinh ngày 12/12/2013. Chị H2 có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, anh T1 đề nghị Tòa án hỏi ý kiến hai con chung, anh tôn trọng ý kiến của hai cháu vì hiện tại bản thân anh cũng có nhiều bệnh nên không thể làm việc hay chăm sóc con chung được tốt. Nguyện vọng của cháu Q1 và cháu H1 là được ở cùng mẹ và bà ngoại. Bà T đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q1 và cháu H1 đến khi chị H2 về nước. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H2, giao cho chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thân Ngọc Q1, sinh ngày 18/10/2008 và cháu Thân Ngọc H1, sinh ngày 12/12/2013 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác của pháp luật nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị Nguyễn Thị H về Việt Nam sinh sống. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không đề nghị nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng N1 - Chi nhánh K Bắc Giang.

Ngày 25/6/2024, Ngân hàng N1 - Chi nhánh K có đơn xin rút yêu cầu độc lập về việc: Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Thân Ngọc T1 phải trả tổng số tiền nợ là 328.092.692 đồng (trong đó: nợ gốc là 190.000.000đồng, nợ lãi là 125.422.946 đồng, số tiền phạt chậm trả là 12.669.746 đồng) và toàn bộ nợ lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2502LAV201701274 ngày 31/7/2017 đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 11/11/2023 cho đến khi trả hết nợ. Nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự cần đình chỉ yêu cầu độc lập của Ngân hàng.

[8]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006951 ngày 08/5/2023 của Cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

Hoàn trả Ngân hàng N1 - Chi nhánh K số tiền 7.500.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000866 ngày 27/11/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Thân Ngọc T1.
  2. Về con chung: Giao cháu Thân Ngọc Q1, sinh ngày 18/10/2008 và cháu Thân Ngọc H1, sinh ngày 12/12/2013 cho chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác của pháp luật nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị Nguyễn Thị H về Việt Nam sinh sống. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.

    Sau khi ly hôn, anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  3. Đình chỉ yêu cầu độc lập của ngân hàng N1 - Chi nhánh khu công nghiệp Đ về việc: Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Thân Ngọc T1 phải trả tổng số tiền nợ là 328.092.692 đồng (trong đó: nợ gốc là 190.000.000đồng, nợ lãi là 125.422.946 đồng, số tiền phạt chậm trả là 12.669.746 đồng) và toàn bộ nợ lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2502LAV201701274 ngày 31/7/2017 đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 11/11/2023 cho đến khi trả hết nợ.
  4. Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006951 ngày 08/5/2023 của Cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

    Hoàn trả Ngân hàng N1 - Chi nhánh K số tiền 7.500.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000866 ngày 27/11/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

  6. Về quyền kháng cáo:
    • Nguyên đơn hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND phường Tăng Tiến, thị xã Việt Yên;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 237/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Hạnh ly hôn anh Thân Ngọc Thắng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger