Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 237/2023/HS-ST

Ngày: 25 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ -TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Chung Kim Sang.

- Bà Trần Thị Lệ.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 224/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2023/ HSST-QĐ ngày 27/9/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn Đ, sinh ngày 22/9/1986.

Nơi ĐKTT: SỐ B N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Không có chỗ ở nhất định.

Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Hoàng H và bà Lý Ngọc H1; chị ruột có 01 người sinh năm 1983; vợ: Lê Thị Hồng L (đã ly hôn); con: Lê Minh K, sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: chưa

Nhân thân:

Ngày 09/5/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản, theo Bản án số 63/2008/HSPT ngày 09/5/2008. Ngày 09/7/2013 chấp hành xong hình phạt, hiện đã xóa án tích.

Ngày 07/3/2019, bị Tòa án dân huyện C, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 23/9/2019, chấp hành xong hình phạt, đã được xóa tiền sự.

Ngày 10/01/2023, có hành vi trộm cắp tài sản bị bắt quả tang và bị tạm giữ; ngày 16/01/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố, tạm giam theo Lệnh số 05, ngày 16/01/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố R.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Trần Minh Đ1, sinh năm 2000 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A P, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần L1, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A P, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

* Người làm chứng: Trần Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A L, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 09/01/2023, Lê Văn Đ đi bộ trên đường C để đến nhà của chị ruột chơi. Khi đến khu vực thuộc khu phố A, phường A, Đời thấy có một chiếc xe đạp đang đậu trên lề đường không có người trông coi nên liền đi đến lấy trộm (bị cáo không nhớ vị trí lấy trộm xe và hiện chưa xác định được người bị hại). Sau đó, Đ điều khiển xe đạp đến huyện C, tỉnh Kiên Giang thuê phòng trọ ngủ qua đêm. Đến khoảng 11 giờ ngày 10/01/2023, Đ điều khiển xe đạp quay về thành phố R. Khi đi đến khu vực thuộc ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang, Đời thấy trên lề đường có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 68S1 – 078.47 của chị Hà Thị Mai L2 đang đậu và chìa khóa còn sẵn trên xe nên liền bỏ lại chiếc xe đạp và lấy trộm chiệc xe mô tô của chị L2 chạy về thành phố R. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến trước nhà số F đường N, phường A, thành phố R, Đ thấy có một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 68S1-620.39 của anh Trần L1 đang đậu và chìa vẫn còn trên xe (xe do Lỹ mượn của Trần Minh Đ1). Liền lúc này, Đ đậu xe 68S1 – 078.47 lại và đi vào dẫn xe 68S1-620.39 của anh Trần L1 ra ngoài chạy đi thì bị anh L1 phát hiện đuổi theo bắt giữ Đ giao cho Công an phường A. Ngày 16/01/2023, Lê Văn Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố bị can, tạm giam để điều tra. (bút lục số: 75-80, 83-86)

* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 68S1-620.39 đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 68S1 – 078.47 đã qua sử dụng.

* Tại Bản kết luận về việc định giá tài sản số: 04/KL- HĐĐGTS ngày 13/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 68S1-620.39, màu xanh xám đen, số máy JA52E0151814, số khung 3850LY030401, đã qua sử dụng, có giá trị ngày 10/01/2023 là 15.500.000 đồng (bút lục số: 35).

* Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 52/2023/KLGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm P đối với Lê Văn Đ, như sau:

  • - Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng các chất kích thích (F15.71 – ICD10).
  • - Về năng lực: tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. (bút lục số 38, 39).

* Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKSRG ngày 05/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51 do tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, q khỏan 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã trao trả cho người bị hại là ông Trần Minh Đ1:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 68S1-620.39, màu xanh xám đen, số máy JA52E0151814, số khung 3850LY030401, đã qua sử dụng.

Theo Quyết định xử lý vật chứng số 12, ngày 17/01/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R (bút lục số: 47, 48).

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, kiển kiểm soát 68S1 – 078.47 đã qua sử dụng, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Kiên Giang xử lý theo thẩm quyền. (bút lục số: 50).

* Về phần dân sự: Người bị hại là anh Trần Minh Đ1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm. (bút lúc số: 83).

* Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoảng 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt đối với bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an thành phố R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra, lời khai của bị cáo không thống nhất và có lúc không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên tại phiên toà bị cáo Lê Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/01/2023, tại số F đường N, phường A, thành phố R, Lê Văn Đ lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 68S1-620.39 của anh Trần L1 (xe do L1 mượn của Trần Minh Đ1) bị bắt quả tang. Qua định giá xe 68S1-620.39 có giá trị ngày 10/01/2023 là 15.500.000 đồng. Ngày 16/01/2023, Lê Văn Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố bị can, tạm giam để điều tra.

- Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn Đ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì sự tham lam, muốn thụ hưởng tài sản không do mình bỏ sức lao động tạo ra mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự an ninh tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xét xử các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đồng thời tại phiên tòa bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của nhà nước, để bị cáo có thời gian học tập cải tạo sớm hòa nhập với cộng đồng

[4]- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]- Về tình tiết giảm nhẹ: Khi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vị phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[7] Về Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã trao trả cho người bị hại là ông Trần Minh Đ1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, kiển kiểm soát 68S1 – 078.47 đã qua sử dụng, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Kiên Giang xử lý theo thẩm quyền. (bút lục số: 50).

* Về phần dân sự: Người bị hại là anh Trần Minh Đ1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm. (bút lúc số: 83)

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
    - Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ, 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 10/01/2023.
  2. Về xử lý vật chứng vụ án: Vật chứng trong vụ án đã được trao trả cho bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/10/2023).

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Viện kiểm sát Tp. Rạch Giá;
  • - Chi cục THA Tp. Rạch Giá;
  • - Nhà tạm giữ, CQĐT- Công an thành phố Rạch Giá;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nguyên Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 237/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Văn Đ phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger