|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 237/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Hữu Tấn.
- Ông Nguyễn Hữu Cổn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 249/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Việt E, sinh năm 1992 tại Sóc Trăng; hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã L, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Phòng số 03, nhà T, đường D, khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q, sinh năm 1970 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; vợ Huỳnh Thị H, sinh năm 1996, bị cáo có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 301/2016/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2018 và chấp hành xong phần án phí; ngày 06/6/2024, bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay; bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Việt E là đối tượng nghiện ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine) từ năm 2021. Việt Em ở trọ tại phòng số 3, nhà trọ Lê Văn T cạnh đường D thuộc khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 16 giờ ngày 05/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Việt E sử dụng tài khoản zalo “T1 và Á” gọi vào tài khoản zalo “Hữu K3” của một người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá và hẹn giao ma túy tại nhà trọ Lê Văn T. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H1 điều khiển xe mô tô không rõ biển số đến nhà trọ Lê Văn T bán cho Việt E 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá. Sau đó, Việt E đem gói ma túy vào phòng trọ, lấy một phần ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi sử dụng hết. Phần còn lại, Việt E vẫn để trong gói nylon hàn kín lại và lấy tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bọc bên ngoài, rồi dùng băng keo 02 mặt dán tờ tiền bọc gói ma túy lên trên la phông trên gác phòng trọ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi Việt E đang ở trong phòng thì bị lực lượng Công an phường M phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đến kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ trên gác phòng trọ có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên khoảng 03 giờ ngày 06/6/2024, lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp phát hiện thu giữ được 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng dán trên la phông trên gác. Việt Em khai tinh thể màu trắng trong gói nylon là ma túy đá của Việt E mua được nhằm mục đích sử dụng nên lực lượng Công an tiến hành bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Việt E.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng.
Theo Kết luận giám định số 2733/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bị thu giữ gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4189 gam. Mẫu vật sau giám định được niêm phong, có khối lượng 0,3967 gam.
Tại bản Cáo trạng số 253/CT-VKSBC ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố: Bị cáo Lê Việt E về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như Cáo trạng số 253/CT-VKSBC ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Việt E mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư dán kín số 2733/PC09 được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3967 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- + Tịch thu vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát. Trong phần tranh luận tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của kiểm sát viên.
Lời sau cùng của bị cáo: Bị cáo Lê Việt E mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 03 giờ 00 phút ngày 06/6/2024, tại phòng số 3, nhà trọ Lê Văn T cạnh đường D thuộc khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an phát hiện Lê Việt E có hành vi tàng trữ 01 gói nylon chứa ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4189 gam nhằm mục đích để sử dụng.
Hành vi trên của bị cáo Lê Việt E đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Như vậy Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Việt E về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tính chất: Ma túy là chất được Nhà nước độc quyền quản lý, việc sử dụng trái phép, không đúng mục đích, liều lượng thì nó sẽ trở thành chất cực kỳ độc hại; không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng mà còn ảnh
hưởng xấu đến gia đình, xã hội và là một trong những nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo Lê Việt E biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần phải xét xử bị cáo thật nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để bị cáo tự cai nghiện cũng như bị cáo có thời gian lao động, học tập, rèn luyện tu dưỡng đạo đức của mình để trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội khi quay lại hòa nhập với cộng đồng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư dán kín số 2733/PC09 được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3967 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- + Tịch thu vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng.
[5] Đối với người đàn ông tên H1 có hành vi bán ma túy cho Lê Việt E, do không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý là có căn cứ.
[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Việt E phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Lê Việt E phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Việt E 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư dán kín số 2733/PC09 được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3967 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- + Tịch thu vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương với Chi cục Thi hành án thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hồ Thị Hoa |
Bản án số 237/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 237/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Việt E phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
