|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 237/2024/HS-ST Ngày: 21-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tôn Thất Quý và ông Võ Phi Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 187/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đăng Q (tên gọi khác: X), sinh ngày 10/4/1994, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi thường trú: Số H đường X, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện nay: Số A đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đăng T, sinh năm 1960 và bà Trần Thị H, sinh năm 1965; vợ con chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Có 04 tiền án, Ngày 29/7/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 15 tháng tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 158/2013/HSST); Ngày 26/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 51/2015/HSST); Ngày 07/9/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 190/2017/HSST); Ngày 23/10/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, với tình tiết định khung tăng nặng tái phạm nguy hiểm (Bản án số 237/2020/HS-ST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/6/2022 trở về địa phương sinh sống. Nhân thân: Ngày 07/9/2012 bị Toà án nhân dân thành phố Huế xử phát 04 tháng 11 ngày tù về tội” Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/3/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
- + Anh Nguyễn Văn Hòa H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Số F đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh thừa thiên Huế. Vắng mặt.
- + Ông Trương Văn K, sinh năm 1968; địa chỉ: Số I đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Tâm T1, sinh năm 2003; địa chỉ: Xóm F, thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Trương Thụy T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Số G đường B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Anh Trương Quang T3, sinh năm 1984; địa chỉ: Số I đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1975; địa chỉ: Kiệt I đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn V (H2), sinh năm 1983; địa chỉ: P, khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Anh Đỗ Hồ Anh Q1, sinh năm 1996; địa chỉ: Số B kiệt B đường B, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Bà Trần Thị H, sinh năm 1965; địa chỉ: Số A đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Ông Hoàng Trọng T4, sinh năm 1951; địa chỉ: Số H đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Chị Phạm Thị Thanh T5, sinh năm 2004; địa chỉ: TDP M, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa thiên Huế. Vắng mặt.
- + Chị Lê Thị Quỳnh N1, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ F, khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 07/11/2023, Nguyễn Đăng Q đi bộ ngang nhà số F Đ, phường T, thành phố H thì nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 75B1-370.51 của anh Nguyễn Văn Hòa H1 dựng ở lòng đường, đang để sẵn chìa khóa ở ổ khóa điện, không có ai trông giữ liền chiếm đoạt rồi tẩu thoát. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Q dắt xe ngang khu vực nhà số G đường B, phường P, thành phố H thì gặp anh Trương Thụy T2, anh T2 hỏi “xe bị chi mà dắt bộ rứa”, Q trả lời “xe em bị thủng lốp”. Anh T2 hỏi tiếp “chừ em về mô”, Q đáp “em về T”. Anh T2 nói “thôi vô đây để xe đó anh cho mượn tiền mà về, chiều mai đưa tiền lên lấy xe mà về”. Q đồng ý, rồi lấy của anh T2 1.000.000 đồng. Ngày hôm sau anh T2 không thấy Q quay lại nên đưa xe đến Công an phường P gửi lại.
Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 13/3/2024, Q đi bộ ngang nhà số I Đ, phường T, thành phố H nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu Jupiter màu xanh, biển số 75H5-5222 do ông Trương Văn K mượn của em trai là anh Trương Quang T3 dựng ở lòng đường, đang để sẵn chìa khóa ở ổ khóa điện, không có ai trông giữ liền chiếm đoạt rồi tẩu thoát ra chung cư H. Tại đây, Q gặp bạn tên là Nguyễn V nhờ cầm xe. V hỏi “xe của ai”, Q trả lời “xe này là xe của em”. Nghe vậy, V chạy xe đi cùng với Q đến quán sửa xe “Anh D” gặp ông Huỳnh Văn N. Lúc này, V tiếp tục hỏi cầm bao nhiêu, Q nói cầm 2.000.000 đồng, V nói chỉ cầm 1.500.000 đồng thôi, thì Q đồng ý. Do Q có ngồi uống bia cùng với ông N nên để lại 200.000 đồng góp tiền bia nên ông N đưa cho Q 1.300.000 đồng; sau khi V chở Q về lại chung cư H thì Q cho V 100.000 đồng.
Vụ thứ ba: Đến khoảng 20 giờ ngày 13/3/2024, Q tiếp tục đi bộ từ chung cư H ngang nhà số F T, phường H, thành phố H thì nhìn thấy chiếc mô tô hiệu SH Mode màu đỏ-đen, biển số 75D1-295.07 của anh Nguyễn Tâm T1 mượn của mẹ là bà Nguyễn Thị S, dựng ở lòng đường, trên xe móc sẵn chìa khóa từ không có ai trông giữ liền chiếm đoạt rồi tẩu thoát. Đến 22 giờ cùng ngày, Q chạy xe đến đường Bà T6 gặp đối tượng tên H3 (làm nghề sửa xe ở gần siêu thị G) hỏi cầm xe, H3 trả lời không có tiền. Q hỏi H3 quen ai nhờ cầm giúp thì H3 dẫn Q đến gặp anh Đỗ Hồ Anh Q1 để cầm cố. Anh Q1 hỏi “xe ni là xe của ai ri”, Q đáp “xe là của nhà tau”. Sau khi trao đổi qua lại, anh Q1 yêu cầu Q tới đứng bên chiếc xe chụp ảnh lại để làm tin rồi đồng ý cầm cố 4.000.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 453/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận, tại thời điểm bị chiếm đoạt: 01 chiếc xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 75B1-370.51, trị giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Tại kết luận định giá tài sản số 1403/KL-HĐĐGTS ngày 18/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận, tại thời điểm bị chiếm đoạt: 01 chiếc xe mô tô hiệu Jupiter màu xanh, biển số 75H5-5222, trị giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng); 01 chiếc mô tô hiệu SH Mode màu đỏ-đen, biển số 75D1-295.07, trị giá 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng của vụ án:
- 01 chiếc xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 75B1-370.51.
- 01 chiếc xe mô tô hiệu Jupiter màu xanh, biển số 75H5-5222.
- 01 chiếc xe mô tô hiệu SH Mode màu đỏ-đen, gắn biển số 75B1-156.67.
- 01 USB lưu hình ảnh gây án do Camera ghi lại - đã niêm phong.
Tại bản Cáo trạng số 214/CT-VKSTPH ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Q từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy biển số xe mô tô 75B1-156.67; tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB lưu hình ảnh gây án do Camera ghi lại.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, vào các ngày 07/11/2023 và 13/3/2024, tại địa bàn thành phố H, bị cáo Nguyễn Đăng Q đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản rồi lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Hòa H1 01 chiếc xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 75B1-370.51, trị giá 5.000.000 đồng, của ông Trương Văn K 01 chiếc xe mô tô hiệu Jupiter màu xanh, biển số 75H5-5222, trị giá 3.000.000 đồng và của anh Nguyễn Tâm T1 01 chiếc mô tô hiệu SH Mode màu đỏ-đen, biển số 75D1-295.07, trị giá 30.000.000 đồng đem cầm cố lấy tiền tiêu xài. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Q đã chiếm đoạt là 38.000.000 đồng.
Mặc dù giá trị tài sản mà bị cáo Q đã chiếm đoạt dưới 50.000.000 đồng, nhưng bị cáo đang có 4 tiền án và tại bản án số 237/2020/HSST ngày 23/10/2020 Tòa án nhân dân thành phố Huế đã xác định bị cáo tái phạm nguy hiểm, ngày 10/6/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích nay tiếp tục thực hiện hành vi tội phạm do cố ý nên đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố.
[3] Xét căn cứ quyết định hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, có nhân thân xấu, từng bị Toà án kết án về nhiều hành vi phạm tội khác nhau. Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần xét cho bị cáo là quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trả lại cho các chủ sở hữu 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter màu xanh, biển số 75H5-5222 và 01 xe mô tô nhãn hiệu SH Mode màu đỏ - đen, biển số 75D1-295.07 là đúng quy định của pháp luật, không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, biển số 75B1-370.51. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe mô tô này có số khung: RLCUE3220TY090762, số máy: E3X9E436710 đứng tên chủ sở hữu là anh Nguyễn Xuân C1. Hiện anh C1 đã chết; bị hại là anh H1 khai xe được mua lại nhưng không cung cấp được hợp đồng mua bán và giấy đăng ký xe nên Cơ quan điều tra công an thành phố H đang tạm giữ để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với biển số 75B1-156.67, qua xác minh biển số xe được đăng ký cho xe Honda Airblade màu vàng bạc đen, số khung RLHJF2702BY693467, số máy JF27E1468221, thuộc quyền sở hữu của ông Hoàng Trọng T4. Quá trình quản lý, sử dụng xe ông T4 đánh rơi biển số xe ở đâu không rõ. Hiện ông T4 đã đăng ký làm lại biển số xe và không có yêu cầu gì thêm nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 USB lưu hình ảnh được trích xuất từ camera an ninh là vật chứng của vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- - Anh Trương Thụy T2 không yêu cầu bị cáo trả lại 1.000.000 đồng đã mượn.
- - Ông N nhận lại từ anh V 100.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường 1.200.000 đồng tiền cầm cố xe.
- - Anh Đỗ Hồ Anh Q1 đã nhận bồi thường 2.000.000 đồng và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
[6] Đối với anh Trương Thụy T2, anh Đỗ Hồ Anh Q1 và ông Huỳnh Văn N khi cho mượn tiền và cầm cố xe mô tô, đều không biết các xe mô tô trên là do Q trộm cắp mà có nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Anh Q1 và ông N cầm cố xe nhưng không có giấy tờ hợp lệ nên Cơ quan điều tra đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố H xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đăng Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng Q 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 20/3/2024).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 biển số 75B1-156.67 (Vật chứng có đặc điểm được xác định theo biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng ngày 10/7/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB lưu hình ảnh được trích xuất từ camera an ninh ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc (được niêm phong);
3. Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Buộc bị cáo Nguyễn Đăng Q phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 237/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 237/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản Nguyễn Đăng Q
