Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 237/2024/HS – ST

Ngày: 21-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Trọng Tâm

2. Ông Lê Văn Tập

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình – c/v: Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 211/2024/TLST – HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2024/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QÐST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên Lê Bảo T

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991; Tại: Đắk Lắk; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đức N và con bà Trần Thị T1. Bị cáo có vợ là Trần Thị Mộng U và có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại – Có mặt

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đỗ Minh L

    Địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt

  2. Ông Nguyễn Văn T2

    Địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt

  3. Cao Thị H

    Địa chỉ: A đường I, khu phố A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Bảo T (sinh năm 1991, trú tại: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk) với Đỗ Minh L (sinh năm 1991, trú tại Thôn E, xã N, huyện Đ, huyện Đ) có quan hệ bạn bè với nhau.

Ngày 07/01/2024, Lê Bảo T dùng điện thoại di động hiệu S S9, gắn sim số 0941.614.617 gọi đến điện thoại di động hiệu iphone 11 Promax, màu đen gắn sim số 0966.458.148 của Đỗ Minh L (là tài xế xe ô tô tải cho Công ty V, địa chỉ Thôn E, xã N, huyện Đ, huyện Đ) để nói chuyện. Sau đó L hỏi T có mua pháo hoa nổ về bán kiếm lời thì L hỏi 01 bệ pháo hoa nổ bệ 49 ống bao nhiêu tiền, L nói giá 01 bệ pháo hoa nổ bệ 49 ống của Trung Quốc là 1.200.000 đồng/01 bệ, T thấy giá rẻ nên nhờ L mua 03 bệ pháo hoa nổ bệ 49 ống của Trung Quốc với giá 3.600.000 đồng để về bán lại kiếm lời số tiền 200.000 đồng /1 bệ pháo hoa nổ. L cho T số tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng Q để T chuyển tiền mua pháo cho L và hẹn T mấy ngày sau sẽ có pháo. Sau đó, L điện thoại qua Z cho người thanh niên tên T3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đặt mua 03 bệ pháo hoa nổ bệ 49 ống của Trung Quốc với giá 1.100.000 đồng/01 bệ, tổng cộng 3.300.000 đồng thì T3 đồng ý và nói khoảng mấy ngày nữa nhận pháo. Sau đó T dùng ví điện tử MoMo chuyển số tiền 3.600.000 đồng đến tài khoản của L số [...] mở tại Ngân hàng Q, để mua 03 bệ pháo hoa nổ. Đến ngày 15/01/2024, T3 điện thoại qua Z cho L nói nhận pháo gần Cây xăng (không rõ địa điểm) trên Quốc lộ A thuộc huyện B, tỉnh Bình Phước. Sau khi L biết địa điểm nhận pháo, khi đến Quốc lộ A thuộc địa phận huyện B, tỉnh Bình Phước, L liên lạc với T3 để nhận 03 bệ pháo hoa nổ 49 ống của Trung Quốc bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và dòng chữ “CHONGKOL” để trong thùng carton bên ngoài in dòng chữ “AQUAFINAL”, rồi L đưa cho T3 số tiền 3.300.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ ngày 15/01/2024, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H-152.14 kéo theo 01 Sơ mi rơ moóc biển số 48R-002.63 chở hàng đến xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, thấy xe ô tô biển số 48C-029.09 của L đang đỗ bên lề đường nên T đến gặp L lấy 01 thùng giấy carton bên ngoài ghi dòng chữ “AQUAFINA”, T mở thùng giấy carton trên ra kiểm tra thì bên trong chứa 03 bệ pháo hoa nổ bệ 49 ống, được bọc giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ “CHONG KOL”, rồi T bỏ thùng giấy carton đựng 03 bệ pháo hoa nổ bệ 49 ống lên cabin xe ô tô đầu kéo biển số 50H-152.14 rồi tiếp tục điều khiển xe ô tô trên chở hàng về. Đến ngày 20/01/2024, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H-152.14 kéo theo 01 Sơ mi rơ moóc biển số 48R-002.63 chở hàng, khi đến gần thành phố T, tỉnh Bình Dương, T dừng xe ô tô đầu kéo để uống nước tại quán nước ven đường (không rõ địa chỉ) thì T gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đang ngồi uống nước. Sau đó người đàn ông hỏi T có mua pháo hoa nổ không, T hỏi giá bao nhiêu thì người đàn ông nói giá 1.100.000 đồng /01 bệ nên Thu mua 01 bệ pháo hoa nổ bệ 49 của người đàn ông trên để về bán lại kiếm lời và đưa số tiền 1.100.000 đồng. T mở thùng giấy carton bên ngoài ghi dòng chữ “AQUAFINA” chứa 03 bệ pháo hoa nổ bệ 49 mà L bán cho T để trên cabin xe ô tô đầu kéo biển số 50H-152.14, bỏ thêm 01 bệ pháo hoa nổ bệ 49 của Trung Quốc mua của người đàn ông trên vào thùng giấy carton, 01 bệ pháo hoa nổ bệ 49 mua của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) có bọc giấy nhiều màu sắc bên ngoài, có in dòng chữ “KS4 – 4911 N”, rồi bỏ lại thùng giấy carton trên cabin xe ô tô đầu kéo biển số 50H-152.14, tiếp tục điều khiển xe ô tô đầu kéo trên chở hàng đi giao. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 24/01/2024, T điều khiển xe ô tô đầu kéo nêu trên đến Km 1790 + 700 đường H, thuộc địa phận thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B kiểm tra, phát hiện trên ca bin xe ô tô đầu kéo biển số 50H- 152.14 do T điều khiển, có 01 thùng giấy carton bên ngoài ghi dòng chữ “AQUAFINA” chứa 04 bệ pháo hoa nổ bệ 49 ống, nên tạm giữ, niêm phong số pháo hoa nổ trên để xử lý.

Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ “BILLION TIME E – KS4 – 4911N – 49 SHOTS”; 03 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0850";

01 chiếc xe ô tô đầu kéo biển số: 50H-152.14, nhãn hiệu CNHTC ZZ4257V3247HE1B, loại xe ô tô đầu kéo, màu sơn: trắng, số khung: LZZ1CLVC6MA917587, số máy: MC114450211217203667;

01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy S9, màu đen, số IMEI 1: 355220090126017; số IMEI 2: 355221090126015, của bị cáo Lê Bảo T;

01 điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu đen, số IMEI: 352853111462277; số IMEI 2: 352853111435604, của Đỗ Minh L.

Tại bản Kết luận giám định số 184/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận:

  • + 01 hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ “BILLION TIME E – KS4 – 4911N – 49 SHOTS”, bên trong mỗi hộp đều có 49 vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau đựng trong 01 thùng giấy carton chuyển đến giám định là pháo hoa nổ, khối lượng 1,6 kg.
  • + 03 hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0850”, bên trong mỗi hộp đều có 49 vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau đựng trong 01 thùng giấy carton chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, khối lượng 5,1 kg.

Tại bản cáo trạng số: 224/CT-VKS ngày 12/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố Lê Bảo T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Bảo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Bảo T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Bảo T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 04 hộp pháo hoa nổ gồm: 01 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ “BILLION TIME E – KS4 – 4911N – 49 SHOTS” và 03 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0850”, có tổng khối lượng còn lại sau giám định 3,4 kg (Được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T4, Nguyễn Văn T5Nguyễn Văn N1) là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử.

Đối với: Chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy S9, màu đen, số IMEI 1: 355220090126017; số IMEI 2: 355221090126015, là tài sản của Lê Bảo T dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử.

Đối với: Chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu đen, là tài sản của Đỗ Minh L. Căn cứ Khoản 11, Điều 8 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của C. Ngày 10/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại di động hiệu iPhone 11 Pro Max, màu đen cho Đỗ Minh L là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với: Chiếc xe ô tô đầu kéo biển số: 50H-152.14, nhãn hiệu CNHTC ZZ4257V3247HE1B, loại xe ô tô đầu kéo, màu sơn: trắng, số khung: LZZ1CLVC6MA917587, số máy: MC114450211217203667, là tài sản của chị Cao Thị H (sinh ngày: 14/7/1983; trú tại A đường I, Khu phố A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh). Chị H không biết bị cáo Lê Bảo T dùng để phạm tội.

Ngày 03/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe ô tô đầu kéo biển số: 50H-152.14 cho chị Cao Thị H nhận, quản lý sử dụng.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Bảo T không bào chữa tranh luận gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo: khoảng 04 giờ sáng, ngày 24/01/2024 bị cáo Lê Bảo T đã vận chuyển 04 bệ pháo hoa nổ loại 49 ống, có tổng trọng lượng là 6,7 kg, trên xe ô tô đầu kéo biển số 50H-152.14 để về nhà tại xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk bán lại để kiếm lời. Khi bị cáo Lê Bảo T đi đến K + 700 đường H thuộc địa phận Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Lê Bảo T đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Lê Bảo T theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 190 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về buôn bán những mặt hàng bị cấm, gây mất trật tự trị an trên địa bàn địa phương. Bị cáo biết tác hại của hành vi mình gây ra, song do ý thức coi thường pháp luật, động cơ vụ lợi để kiếm lời nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi của mình. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt đủ nghiêm, đối với bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.

[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử xét thấy, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng; Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Lê Bảo T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

[2.3] Đối với Đỗ Minh L là người bán 03 hộp pháo hoa nổ, tổng khối lượng là 5,1 kg, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0850”, cho bị cáo Lê Bảo T. Hành vi trên của Đỗ Minh L đã cấu thành tội Buôn bán hàng cấm, quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra xác định: Đỗ Minh L chưa có tiền án, tiền sự, khối lượng pháo hoa nổ không đủ định lượng để xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với Hành vi bán pháo hoa nổ của Đỗ Minh L xảy ra tại địa bàn huyện B, tỉnh Bình Phước. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đối với Đỗ Minh L cho Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước để xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Đối với: Chị Cao Thị H là chủ tài sản xe ô tô đầu kéo biển số 50H- 152.14; anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1985, trú tại Thôn E, xã N, huyện Đ, huyện Đ) là người thuê bị cáo Lê Bảo T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H- 152.14. Quá trình điều tra xác định: Chị H, anh T2 không biết việc Lê Bảo T điều khiển chiếc xe ô tô đầu kéo trên để vận chuyển hàng cấm là 04 bệ pháo hoa nổ bệ 49 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với người tên T3 bán cho Đỗ Minh L 03 bệ pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0850”, tổng khối lượng 5,1 kg với số tiền 3.300.000 đồng; người đàn ông (chưa xác định lai lịch) bán 01 bệ pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ “BILLION TIME E – KS4 – 4911N – 49 SHOTS”, khối lượng 1,6 kg với số tiền 1.100.000 đồng cho bị cáo Lê Bảo T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa xác minh được nhân thân lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra tách ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục xác minh và xử lý sau.

[2.4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 04 hộp pháo hoa nổ gồm: 01 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ “BILLION TIME E – KS4 – 4911N – 49 SHOTS” và 03 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0850", có tổng khối lượng còn lại sau giám định 3,4 kg (Được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T4, Nguyễn Văn T5Nguyễn Văn N1) là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử.

Đối với: Chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy S9, màu đen, số IMEI 1: 355220090126017; số IMEI 2: 355221090126015, là tài sản của Lê Bảo T dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử.

Đối với: Chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu đen, là tài sản của Đỗ Minh L. Căn cứ Khoản 11, Điều 8 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính Phủ. Ngày 10/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại di động hiệu iPhone 11 Pro Max, màu đen cho Đỗ Minh L là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với: Chiếc xe ô tô đầu kéo biển số: 50H-152.14, nhãn hiệu CNHTC ZZ4257V3247HE1B, loại xe ô tô đầu kéo, màu sơn: trắng, số khung: LZZ1CLVC6MA917587, số máy: MC114450211217203667, là tài sản của chị Cao Thị H (sinh ngày: 14/7/1983; trú tại A đường I, Khu phố A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh). Chị H không biết bị cáo Lê Bảo T dùng để phạm tội. Ngày 03/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe ô tô đầu kéo biển số: 50H-152.14 cho chị Cao Thị H nhận, quản lý sử dụng.

[2.5] Về án phí: Bị cáo Lê Bảo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Bảo T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Bảo T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Lê Bảo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Bảo T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với 04 hộp pháo hoa nổ gồm: 01 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ “BILLION TIME E – KS4 – 4911N – 49 SHOTS” và 03 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài dán giấy màu in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0850”, có tổng khối lượng còn lại sau giám định 3,4 kg (Được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T4, Nguyễn Văn T5Nguyễn Văn N1) là vật chứng của vụ án.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước Đối với: Chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy S9, màu đen, số IMEI 1: 355220090126017; số IMEI 2: 355221090126015, là tài sản của Lê Bảo T dùng vào việc phạm tội.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B trao trả cho Đỗ Minh L 01 Chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu đen, là tài sản của Đỗ Minh L.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B trao trả cho bà Cao Thị H 01 Chiếc xe ô tô đầu kéo biển số: 50H-152.14, nhãn hiệu CNHTC ZZ4257V3247HE1B, loại xe ô tô đầu kéo, màu sơn: trắng, số khung: LZZ1CLVC6MA917587, số máy: MC114450211217203667, là tài sản của chị Cao Thị H (sinh ngày: 14/7/1983; trú tại A đường I, Khu phố A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh).

(Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Bảo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

* Nơi nhận:

  • – Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • – TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Công an thành phố Buôn Ma Thuột;
  • – Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • – Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • – Bị cáo, các đương sự;
  • – Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2024/HS – ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 237/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Bảo T buôn bán pháo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger