Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 237/2025/DS-ST

Ngày: 25 - 11 - 2025

“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội Đồng Xét Xử Sơ Thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Phước Lộc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Kim Ly

2. Ông Dương Thành Phúc

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ba – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh An Giang

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân Khu Vực 8 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hà Duy Phúc – Kiểm sát viên

Trong ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh An Giang đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2025/QĐXXST-DS, ngày 27 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2025/QÐST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K

Địa chỉ: 4 P, phường R, tỉnh An Giang

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V, chức vụ: Phó Tổng giám đốc (Quyết định ủy quyền số 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023)

Người được ủy quyền: Ông Tạ Chí D, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, phường H, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền số 1354/QĐ-NHKL ngày 24/5/2024)

2/ Bị đơn: Bà Lý Thị Đ, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp K, xã G, tỉnh An Giang

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1954 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp K, xã G, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện phía nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K trình bày:

Vào ngày 05 tháng 10 năm 2019 bà Lý Thị Đ đến Ngân hàng TMCP K - Phòng G (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng), theo hợp đồng tín dụng từng lần số 1013/19/HĐTD/1005-6048 ký ngày 05/10/2019; Mục đích vay: Bổ sung vốn trồng lúa, nuôi bò; Thời hạn vay 01 năm kể từ ngày kế tiếp của ngày giải ngân đầu tiên; Ngày giải ngân 05/10/2019, đến ngày 05/10/2020; Lãi suất vay: 11,05%/năm. Kể từ tháng thứ 4 tính từ ngày giải ngân tiếp theo từ khế ước nhận nợ, lãi suất vay sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng TMCP K tại thời điểm giải ngân cộng (+) 3,8%/năm và không được thấp hợp lãi suất vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân; Lãi quá hạn: bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả: 10%/năm; Hình thức thanh toán: Kỳ hạn trả lãi vay 06 tháng/lần, nợ gốc trả cuối kỳ; Số lần trả nợ gốc: 01 kỳ.

Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 568/16/HDTC-BĐS/1005/0917 ngày 23/9/2016; được ký kết bởi bà Lý Thị Đ với đại diện ngân hàng và được Văn phòng C chứng thực ngày 23/9/2016.

Tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay trên là Quyền sử dụng đất theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 186566 do UBND huyện G cấp ngày 12/7/2011; thửa đất số 1479; Tờ bản đồ số 11; diện tích 30000m²; Mục đích sử dụng đất: Trồng lúa nước; Thời hạn sử dụng đất: 06/2031; Tọa lạc: Ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang; đứng tên bà Lý Thị Đ.

Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện G ngày 26/9/2016.

Bà Lý Thị Đ đã vi phạm hợp đồng tín dụng từng lần số 1013/19/HĐTD/1005-6048 ký ngày 05/10/2019, khi không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn. Dẫn tới chuyển sang nhóm nợ xấu, làm ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn, quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP K.

Nay phía ngân hàng yêu cầu buộc bà Lý Thị Đ phải trả một lần cho Ngân hàng TMCP K số tiền 389.485.536 đồng (ba trăm tám mươi chín triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 150.000.000 đồng và các khoản tiền lãi tạm tính đến ngày 25/11/2025 là: Lãi trong hạn 14.037.671 đồng, tiền lãi chậm trả là 7.218.824 đồng và tiền lãi quá hạn là 218.229.041 đồng. Đồng thời yêu cầu bà Đ phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 26/11/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Trường hợp bà Lý Thị Đ không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án của Tòa án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 568/16/HDTC-BĐS/1005-0917 ký ngày 23/9/2016 để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K.

Đối với bị đơn bà Lý Thị Đ: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Đ thông qua bà Ngô Thị L là mẹ bà Đ ở cùng nhà bà Đ nhận thay. Nhưng bà Đ không đến Tòa án để làm việc cũng không gửi bản khai trình bày ý kiến của mình nên trong hồ sơ không có lời khai của bà Đ.

Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị L trình bày: Tôi là mẹ ruột của bà Lý Thị Đ, việc con gái tôi Lý Thị Đ vay tiền tại ngân hàng thương mại cổ phần K như thế nào thì tôi không biết. Hiện tôi đang canh tác, sử dụng phần đất ruộng là tài sản mà bà Đ là con gái tôi đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP K. Nếu sau này phía ngân hàng có kê biên, phát mãi tài sản này thì tôi tự nguyện bàn giao đất, tôi cam kết không có tranh chấp gì.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu và đề nghị giải quyết vụ kiện như sau:

  • Về Tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như qua theo dõi diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định quan hệ tranh chấp, đưa người tham gia tố tụng, xác minh thu thập chứng cứ và tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự. Tuy nhiên Tòa án còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Bị đơn bà Lý Thị Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến của mình về nội dung việc kiện, do đó Tòa án đưa ra xét xử là đúng pháp luật và bị đơn được thực hiện quyền của mình khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  • Về nội dung: Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả khoản nợ vay là có cơ sở, bởi việc này chứng minh qua hợp đồng tín dụng được ký kết giữa hai bên, do bà Lý Thị Đ vi phạm thỏa thuận thanh toán ghi trong hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện là đúng pháp luật. Qua đó đề nghị giải quyết buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo yêu cầu, Trường hợp bà Đ không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP K có quyền đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp bất động sản đã ký để thu hồi nợ. Đồng thời bị đơn phải chịu án phí theo giá ngạch và chi phí tố tụng, hoàn trả án phí tạm nộp cho nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại cổ phần K yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lý Thị Đ trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng, bà Đ có nơi cư trú tại ấp K, xã G, tỉnh An Giang. Nên căn cứ quy khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định đây là vụ kiện về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh An Giang.

[2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Lý Thị Đ đã được Tòa án triệu hợp lệ lần thứ hai tới phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ quy định tại khoản 1,2 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án xét vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ, bà L.

[3] Về nội dung vụ án:

- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu bà Lý Thị Đ trả số nợ gốc 150.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh, đồng thời cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là hồ sơ vay vốn được ký giữa Ngân hàng TMCP K với bà Lý Thị Đ, do bà Đ vi phạm thỏa thuận thanh toán nợ ký trong hợp đồng, nên ngân hàng yêu cầu trả nợ.

Hội đồng xét xử nhận thấy, Hợp đồng tín dụng được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của pháp luật tại khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết.

Đối với bị đơn bà Lý Thị Đ từ khi thụ lý tới khi xét xử Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng nhưng bà Đ không có ý kiến phản đối nào đối với chữ ký của mình tại hợp đồng và yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K, cho thấy bà Đ mặc nhiên thừa nhận mình có nợ Ngân hàng TMCP K số tiền gốc và tiền lãi tính trên hợp đồng đã ký kết. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì đây là tình tiết không phải chứng minh.

Xét hợp đồng vay tài sản là tiền giữa Ngân hàng TMCP K với bà Đ là hợp đồng có kỳ hạn, theo thỏa thuận trong hợp đồng Hợp đồng tín dụng từng lần số 1013/19/HĐTD/1005-6048 ký ngày 05/10/2019 trong đó Điều 3 của Hợp đồng quy định các kỳ trả lãi lãi, nợ gốc và tại Điều 7 của Hợp đồng tín dụng quy định về chuyển nợ quá hạn, tiền lãi nợ quá hạn, tiền lãi chậm trả và phân loại nợ “Bên A chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc mà bên B không trả được đúng hạn theo thỏa thuận tại Điều 3 HĐTD này mà không được bên A chấp thuận cơ cấu lại thời gian trả nợ. Đối với số dư nợ gốc mà bên B không trả nợ đúng hạn và bị chuyển thành nợ quá hạn thì bên B phải trả cho bên A tiền Lãi nợ quá hạn theo quy định tại khoản 2 điều này”

Như vậy, việc bà Đ không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên vay là vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đ trả lại số tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/11/2025 tổng cộng 389.485.536 đồng (ba trăm tám mươi chín triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm ba mươi sáu đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên có sở để chấp nhận.

[4] Xét yêu cầu về việc xử lý tài sản bảo đảm:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 568/16/HDTC-BĐS/1005/0917 ngày 23/9/2016; được ký kết bởi bà Lý Thị Đ với Ngân hàng TMCP K và được Văn phòng C chứng thực ngày 23/9/2016.

Tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay trên là Quyền sử dụng đất theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 186566 do UBND huyện G cấp ngày 12/7/2011; thửa đất số 1479; Tờ bản đồ số 11; diện tích 30000m²; Mục đích sử dụng đất: Trồng lúa nước; Thời hạn sử dụng đất: 06/2031; Tọa lạc: Ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang; đứng tên bà Lý Thị Đ. Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện G ngày 26/9/2016.

Xét tính pháp lý hợp đồng thế chấp trên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về nội dung cũng như hình thức của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự 2015; khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163. Theo đó thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật thi hành.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ là có căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự 2015 và phù hợp với các thỏa thuận của hợp đồng thế chấp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí và chi phí tố tụng:

  • Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  • - Về chi phí tố tụng khác: Bà Lý Thị Đ phải trải lại cho Ngân hàng TMCP K chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000đ (hai triệu đồng) mà phía Ngân hàng TMCP K đã nộp trước đó.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

1. Tuyên xử: Buộc bà Lý Thị Đ có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền 389.485.536 đồng (ba trăm tám mươi chín triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 150.000.000 đồng và các khoản tiền lãi tạm tính đến ngày 25/11/2025 là: Lãi trong hạn 14.037.671 đồng, tiền lãi chậm trả là 7.218.824 đồng và tiền lãi quá hạn là 218.229.041 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/11/2025) cho đến khi thi hành án xong bà Lý Thị Đ còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp bà Lý Thị Đ không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 568/16/HDTC-BĐS/1005/0917 ngày 23/9/2016; được ký kết bởi bà Lý Thị Đ với đại diện ngân hàng và được Văn phòng C chứng thực ngày 23/9/2016.

3. Về án phí và chi phí tố tụng khác

- Về án phí: Buộc bị đơn bà Lý Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 19.474.277 đồng (mười chín triệu bốn trăm bảy mươi từ nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng)

Ngân hàng Thương mại cổ phần K được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.964.000 đồng (chín triệu chín trăm sáu mươi tư nghìn đồng) theo lai thu số 0001454 ngày 02/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8, tỉnh An Giang).

- Về chi phí tố tụng khác: Bà Lý Thị Đ phải trải lại cho Ngân hàng TMCP K chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000đ (hai triệu đồng) mà phía Ngân hàng TMCP K đã nộp trước đó.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/11/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV8 – An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu tập án, Hồ sơ;
  • - Lưu VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Phước Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2025/DS-ST ngày 25/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 237/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng - Ngân hàng TMCP Kiên Long + Lý Thị Điệp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger