|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 237/2025/HS-ST
Ngày: 17-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiệu Văn Kết Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Lê Thị Thiện;
- 2. Bà Trần Ngọc Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 266/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Huỳnh Chánh N, sinh năm 2002 tại tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); Căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: T khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ; mẹ là bà Huỳnh Kim T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/8/2023 cho đến nay.
- Đỗ Thị Trúc L (tên gọi khác: Bé T1), sinh năm 2004 tại tỉnh An Giang; Căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Ấp V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Hoài T2 và bà Huỳnh Kim B; chồng tên Phạm Hoàng P và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/10/2025 cho đến nay.
- Trần Thị Trúc T3, sinh năm 2000 tại tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); Căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Ấp F, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ và có mẹ là bà Trần Thị C; bị cáo có chồng nhưng đã ly hôn, có 03 con sinh năm 2017, năm 2021 và năm 2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/8/2023 cho đến nay.
2
- Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2003 tại tỉnh An Giang; Căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã B, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thành T4 và bà Nguyễn Thị Thái X (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/6/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là TAND Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành án phạt tù tại Trại giam H3 đến ngày 25/10/2025 chấp hành xong) Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/10/2025 cho đến nay.
- Đinh Thị Bé H, sinh năm 2003 tại tỉnh Đồng Tháp; Căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp); nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn S và bà Nguyễn Thị L1; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/8/2023 cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thị Trúc L: Ông Nguyễn Tiến D – Trợ giúp viên pháp lý, làm việc tại Trung tâm T9, thuộc Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Ngọc T5, sinh năm 2003; nơi cư trú: Ấp Đ, xã N, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Minh Đ2, Nguyễn Thị Ngọc L2, Trần Anh K, Trần Văn P1, Nguyễn Huỳnh Đoan T6, Lê Văn Đ1, Lê Nhật H1, Nguyễn Minh T7. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 31/7/2023, Q (chưa rõ họ tên lai lịch) rủ Trần Thị Trúc T3, Nguyễn Minh Đ2, Trần Ngọc T5, Nguyễn Thị Ngọc L2 tìm chỗ sử dụng ma túy, ma túy do Q bao cả nhóm sử dụng thì tất cả đồng ý. Lúc này T3 liên hệ với Đỗ Thị Trúc L hỏi thuê phòng và mua ma túy để sử dụng thì L đồng ý cho thuê phòng giá 2.000.000 đồng để sử dụng ma túy và mua ma túy (02 viên thuốc lắc và ma túy loại khay) là 3.100.000 đồng. Q chuyển tiền 5.100.000 đồng cho T3 và T3 đã dùng tiền này trả tiền thuê phòng và mua ma túy của L. L đã nói với Đinh Thị B1 H việc cho T3 và nhóm bạn thuê phòng 01 lầu 01 tại nhà số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương của L và Đinh Thị Bé H (phòng này của H thuê để ở) để sử dụng ma túy lấy tiền thuê phòng 2.000.000 đồng (L và H mỗi người 1.000.000đồng) thì H đồng ý. Lúc này, L liên hệ với Nguyễn Thành Đ hỏi mua ma túy gồm 02 viên thuốc lắc và ma túy loại khay là 3.100.000 đồng. Sau khi Đ đem ma túy đến nơi thì L kêu Nguyễn Huỳnh Chánh N (ở chung tại căn nhà thuê này) đi ra trước cổng nhà gặp Đ lấy ma túy đem lên phòng 01 lầu 01 của căn nhà để cho T3 và nhóm bạn của T3 sử dụng ma túy. Lúc này, T3 cùng với cả nhóm trên đến nhà số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương của L và Đinh Thị B1 H và lên phòng 01 lầu 01 để sử dụng ma túy. N đem ma túy vào phòng 01 lầu 01 và để ma túy ra đĩa, N dùng thẻ nhựa cà ma túy nhuyễn ra và dùng tờ tiền 10.000 đồng cuộn tròn làm ống hút để cho T3 và nhóm bạn T3 sử dụng. N cho nhóm bạn của T3 mượn loa nghe nhạc và đèn nháy để phục vụ việc sử dụng ma túy. Q rủ N sử dụng ma túy nên N cũng sử dụng một ít ma túy rồi đi ra.
3
Tại đây, T3, Đ2, Q, T5, L2, Pháp, K cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 09 giờ 20 phút ngày 01/8/2023, Công an phường B, thành phố T đến kiểm tra căn nhà trên tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Lúc này N tri hô có Công an đến kiểm tra và N lấy dụng cụ sử dụng ma túy ném ra sau nhà để phi tang nhưng đã bị Công an kiểm tra thu giữ.
Tang vật thu giữ gồm:
- + 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có dính một ít chất màu trắng;
- + 01 tờ polime mệnh giá 10.000 đồng được cuộn thành ống hút;
- + 04 mảnh sứ màu trắng từ 01 cái đĩa sứ bị vỡ;
- + 01 loa nghe nhạc hiệu harman/kardon;
- + 01 đèn nháy hiệu K+;
- + 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu xanh, kèm sim số 0372032961 tạm giữ của Đỗ Thị Trúc L.
Kết quả kiểm tra tại Trung tâm Y tế thành phố T xác định Trần Thị Trúc T3, Đinh Thị Bé H, Đỗ Thị Trúc L, Nguyễn Huỳnh Chánh N, Nguyễn Minh Đ2, Trần Ngọc T5, Nguyễn Thị Ngọc L2, Trần Anh K, Trần Văn P1 dương tính ma túy, loại Methamphetamine, Ketamine.
Tại Biên bản mở niêm phong ngày 02/8/2023 tại Phòng K1 Công an tỉnh B cân xác định khối lượng: Không xác định được khối lượng chất màu trắng (do mẫu vật không đủ).
Cáo trạng số 32/CT-VKS TA (nay là VKS – KV16) ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 –Thành phố Hồ Chí Minh) và văn bản số 23/CV-VKS-KV16 ngày 21/11/2025 đã truy tố các bị cáo Trần Thị Trúc T3, Nguyễn Huỳnh Chánh N, Đỗ Thị Trúc L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Truy tố bị cáo Đinh Thị Bé H về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
- Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng:
- - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thị Trúc L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
- - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Chánh N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
4
- - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc T3 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
- - Điểm d Khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Thị B1 Hiền từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù;
- - Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B ký hiệu số 469/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với sim số 0372032961 và 04 mảnh sứ màu trắng từ 01 cái đĩa sứ bị vỡ dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu xanh là của Đỗ Thị Trúc L, 01 loa nghe nhạc hiệu harman/kardon, 01 đèn nháy hiệu K+ và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng dùng vào việc phạm tội Kiểm sát viên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo: Qua trình điều tra, truy tố và tại phiên toà xác định bị cáo Trúc L nhận được số tiền thuê phòng 2.000.000đ, bị cáo Đ bán ma tuý và nhận được số tiền 3.100.000đ nên Kiểm sát viên đề nghị buộc các bị cáo này nộp lại số tiền trên sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với ma túy thu giữ ít không đủ để giám định nên không xác định được định lượng để xử lý hình sự các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Thành Đ, hiện chưa xác định được lai lịch nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra xác minh xử lý theo thẩm quyền.
Đối với Q là người rủ và bao cả nhóm sử dụng ma túy, hiện chưa xác định được lai lịch nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với hành vi của Trần Anh K, Trần Văn P1, Trần Ngọc T5, Nguyễn Thị Ngọc L2, Nguyễn Minh Đ2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy do chưa xác định được hiện ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thị Trúc L: Người bào chữa thống nhất tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo L. Người bào chữa nêu lên nguyên nhận, điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo và cho rằng ngoài tình tiết giảm nhẹ bị cáo có con còn nhỏ thì bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ là thuộc diện hộ nghèo của địa phương nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo mức hình phạt dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.
Ý kiến đối đáp của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên xác định vai trò của bị cáo L trong vụ án là cao nhất, qua xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn các bị cáo còn lại nên Kiểm sát viên đề nghị mức hình
5
phạt của bị cáo ngang bằng với bị cáo T3, bị cáo N và bị cáo H nên Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên đề nghị, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 31/7/2023, tại căn nhà của Đinh Thị Bé H thuê số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) Trần Thị Trúc T3 liên hệ với Đỗ Thị Trúc L thuê phòng với giá 2.000.000 đồng để cùng với Quý Nguyễn Minh Đ2, Trần Ngọc T5, Nguyễn Thị Ngọc L2 tổ chức sử dụng ma túy. Đỗ Thị Trúc L là người bàn bạc với Đinh Thị B1 H về việc cho thuê phòng, trực tiếp giao dịch với Trần Thị Trúc T3 về việc cho thuê phòng, nhận tiền và trực tiếp liên hệ với Nguyễn Thành Đ để mua 3.100.000đồng ma tuý và là người yêu cầu Nguyễn Huỳnh Chánh N nhận ma tuý từ Đ và N mang lên phòng cà ma tuý nhuyễn ra và dùng tờ tiền cuộn tròn làm ống hút để đưa cho T3 và nhóm T3 sử dụng, N cũng được mời sử dụng cùng thì bị phát hiện bắt giữ.
Hành vi của Trần Thị Trúc T3, Nguyễn Huỳnh Chánh N, Đỗ Thị Trúc L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Đinh Thị B1 H đồng ý cho Đỗ Thị Trúc L sử dụng căn nhà của mình thuê để L tổ chức cho Trần Thị Trúc T3 cùng nhóm bạn của T3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Nguyễn Thành Đ bán 3.100.000đồng ma tuý cho Đỗ Thị Trúc L đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh, bình thường của con người. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử
6
dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên. Vì vậy, cần xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo Trần Thị Trúc T3 có 03 con còn nhỏ, bị cao Đỗ Thị Trúc L có 01 con còn nhỏ và thuộc diện hộ nghèo nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho hai bị cáo này.
[5] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận. Tuy nhiên, vai trò của bị cáo Định Thị Bé H2 trong vụ án là thấp nhất, bị cáo không chủ động, chưa hưởng lợi nên Hội đồng xét xử giảm thêm một phần hình phạt cho bị cáo H2.
[6] Đối với quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thị Trúc L cho rằng bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn các bị cáo còn lại nên đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời đề nghị này của người bào chữa là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Bởi lẽ, bị cáo L giữ vai trò tích cực nhất trong vụ án, L là người trực tiếp bàn bạc với bị cáo H2 về việc cho thuê địa điểm, trực tiếp trao đổi, giao dịch với T3, Đ và N để tổ chức hoàn thành tiệc ma tuý cho nhóm của T3. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn nên Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt cho bị cáo L bằng các bị cáo còn lại là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của người bào chữa về việc xử bị cáo dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số vụ 469/PC09 của Phòng K1 Công an tỉnh B là mẫu vật hoàn lại sau giám định nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu huỷ là đúng.
- - Đối với 01 sim số 03720329610 và 4 mảnh sứ màu trắng từ 01 cái đĩa sứ bị vỡ dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu huỷ là đúng.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu xanh, 01 loa nghe nhạc hiệu harman/kardon, 01 đèn nháy hiệu K+ và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. Đây là phương tiện thực hiện tội phạm nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Kiểm sát viên đề nghị buộc bị cáo Đỗ Thị Trúc L nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.000.000đ và buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.100.000đ là phù hợp.
[8] Đối với các vấn đề khác trong vụ án:
7
Đối với số ma túy thu giữ khi khám xét do số lượng còn lại ít, không đủ để giám định do đó không xác định được định lượng để xử lý hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Thành Đ, hiện chưa xác định được lai lịch nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra xác minh xử lý theo quy định.
Đối với đối tượng Q là người rủ và bao cả nhóm sử dụng ma túy, hiện chưa xác định được lai lịch nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với hành vi của Trần Anh K, Trần Văn P1, Trần Ngọc T5, Nguyễn Thị Ngọc L2, Nguyễn Minh Đ2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy do chưa xác định được hiện ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục làm rõ xử lý sau.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đỗ Thị Trúc L và bị cáo Trần Thị Trúc T3;
- - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh Chánh N;
- - Điểm d Khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đinh Thị Bé H;
- - Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ.
- - Điều 47 Bộ luật hình sự.
- - Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Trúc T3, Đỗ Thị Trúc L và bị cáo Nguyễn Huỳnh Chánh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Đinh Thị Bé H phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.1. Xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc T3 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
1.2. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Trúc L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2025.
8
1.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Chánh N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2023.
1.4. Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bé H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2023.
1.5. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số 469/PC09 bên ngoài có chữ ký người chứng kiến Nguyễn Huỳnh Chánh N, Trần Thị Trúc T3, Đỗ Thị Trúc L, chữ ký cán bộ trả mẫu Tô Thanh T8 và hình dấu đỏ tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B.
- - 04 (bốn) mảnh sứ màu trắng từ 01 cái đĩa sứ bị vỡ;
- - 01 (một) sim số 0372032961.
2.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) tờ polime mệnh giá 10.000 đồng được cuộn thành ống hút được niêm phong bên trong 01 (một) bì thư có chữ ký điều tra viên Thiếu tá Lương Minh C1, chữ ký người có đồ vật tài liệu bị niêm phong Trần Thị Trúc T3, chữ ký người chứng kiến Vương K và hình dấu đỏ tròn của Công an phường B, tỉnh Bình Dương.
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu xanh;
- - 01(một) loa nghe nhạc hiệu harman/kardon;
- - 01 (một) đèn nháy hiệu K+.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/12/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an Thành phố H và Phòng thi hành án khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.3. Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Đỗ Thị Trúc L nộp 2.000.000đồng; buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ nộp 3.100.000đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí:
Buộc các bị cáo Trần Thị Trúc T3, Đỗ Thị Trúc L, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Huỳnh Chánh N, Đinh Thị Bé H phải mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiệu Văn Kết Em |
9
Bản án số 237/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 237/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huỳnh Chánh Nghĩa và Đồng phạm- Khoản 2 Điều 255 và khoản 2 Điều 256
