TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 237/2024/HS-ST Ngày: 25/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đức Thành
- Ông Trần Văn Vinh
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký TAND huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Anh Nguyễn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 249/2024/HSST ngày 15/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2024/QĐXXST - HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN QUANG Đ, Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1986, tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Cụm 9, thôn V, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Quang B; con bà Nguyễn Thị Y; Danh chỉ bản: 000000486, lập ngày 31/7/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980; Trú tại: Đội 4, thôn L, xã N, huyện T, Hà Nội. (có mặt)
- Anh Nguyễn Viết D1, sinh năm 1973; Trú tại: Đội 1, xã N, huyện T, Hà Nội. (xin vắng mặt)
Người làm chứng:
- Chị Vũ Hạnh N1, sinh năm 2002; Trú tại: thôn L, xã N, huyện T, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thanh B1, sinh năm 1973; Trú tại: thôn T, xã D, huyện T, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 21/7/2024, Nguyễn Quang Đ đến quán nước của chị Nguyễn Thị N tại xóm Đ, xã V, huyện T, Hà Nội. Tại đây, do có quan hệ tình cảm từ trước nên Đ đã tự ý lấy điện thoại nhãn hiệu Realme C12 màu xanh, ốp lưng mầu đen của chị N để ở quầy lễ tân và truy cập vào phần nội dung tin nhắn để xem. Khi Đ phát hiện chị N có nhắn tin với anh Nguyễn Viết D1 về việc quan hệ tình cảm với chị N thì Đ bực tức, chửi chị N và dùng tay ném điện thoại của chị N xuống đất làm vỡ màn hình điện thoại. Lúc này chị N tay đang cầm khay đựng nước bằng inox thấy Đ ném điện thoại xuống đất liền đập vào đầu Đ 02 phát và nhặt điện thoại lên. Đ dơ tay lên đỡ được và chạy về phía quầy lễ tân cầm 01 con dao loại dao gọt hoa quả dài khoảng 20cm, đầu tù và chửi chị N, lúc này chị N cũng cầm 01 con dao dài khoảng 30cm đuổi Đ ra ngoài cổng. Sau đó, Đ đứng ngoài cổng chờ khách về hết để tiếp tục đến nói chuyện với chị N, Đ đi vào khu vực quầy lễ tân hỏi chuyện chị N tại sao lại quan hệ với người khác thì chị N chửi Đ nên Đ đã cầm con dao gọt hoa quả bằng tay phải dí vào sau lưng chị N, tay trái ghì cổ chị N xuống và nói “sao chị làm vậy”, chị N đã hất tay Đ ra, đúng lúc này, có khoảng 2 đến 3 người khách vào quán thì Đ buông chị N ra để chị N tiếp tục bán hàng. Khi chị N hai tay đang bê khay đựng nước cho khách đi ngang qua thì Đ thấy trong túi quần chị N có 02 chiếc điện thoại di động thò ra, trong đó có chiếc điện thoại Realme C12 màu xanh mà Đ đã đập vỡ màn hình nên Đ tự ý dùng tay móc điện thoại Realme C12 màu xanh của chị N và nói để mang đi sửa. Chị N đang dùng hai tay bê khay nước và biết Đ lấy điện thoại chỉ để mang đi sửa nên khi Đ lấy điện thoại, chị N không ngăn cản. Sau khi lấy được điện thoại, Đ mang điện thoại của chị N về nhà truy cập và tìm tin nhắn liên quan đến việc N quan hệ với anh Nguyễn Viết D1 nhưng đã bị xóa, Đ tiếp tục truy cập vào phần ảnh của chị N thấy có ảnh chị N và anh D1 hôn nhau nên Đ đã đăng vào mục tin ở Facebook của chị N (tên FB là Nga N2). Sau đó, Đ tiếp tục sử dụng ứng dụng Zalo của N nhắn tin với tài khoản Zalo của con dâu chị N với nội dung trách móc chị N. Đ tiếp tục chuyển 02 hình ảnh chị N và anh D1 không mặc áo ôm nhau trong kho dữ liệu điện thoại Samsung J4 của Đ vào điện thoại Realme C12 của chị N và dùng Zalo gửi ảnh chị N và D1 khỏa thân hôn nhau đến tài khoản của chị Nguyễn Thị Thanh M (con dâu chị N). Sau đó, Đ tiếp tục truy cập vào Facebook của N và gửi 02 ảnh N, D1 khỏa thân hôn nhau cho bà Nguyễn Thị Thanh B1 (thông gia với chị N). Trong khoảng thời gian từ tối ngày 21/7 đến sáng ngày 22/7/2024, chị N nhiều lần nhắn tin cho Đ yêu cầu trả điện thoại nhưng Đ không trả và hạn đến sáng hôm sau ra công an sẽ trả. Đến sáng ngày 22/7/2024 khi nhận thấy Đ có hành vi đăng ảnh làm nhục mình, chị N đã trình báo Cơ quan Công an xã V để tố giác. Sau khi biết chị N đã trình báo cơ quan công an, Đ đã đến Công an xã V đầu thú và trả lại điện thoại cho chị N.
Cơ quan Công an đã tiến hành tạm giữ tang vật liên quan: 01 con dao chuôi gỗ chiều dài 31cm; 01 con dao chuôi gỗ dài 29cm; 01 con dao chiều dài 24,5cm, 01 con dao chuôi gỗ màu đen chiều dài 40,5cm; 01 khay inox; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung J4 của Đ và 01 điện thoại di động Realme C12 màu xanh vỡ màn hình của N. Thu giữ tại hiện trường 01 đoạn video ghi lại nội dung sự việc.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quang Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.
Tại Cơ quan Điều tra, chị Nguyễn Thị N trình bày sự việc phù hợp với lời khai của Đ. Chị N khẳng định khi Đ cầm dao và lấy chiếc điện thoại của chị N mang đi thì chị N không sợ hãi, hay bị uy hiếp tinh thần do chị N và Đ có quan hệ tình cảm và biết Đ chỉ nói dọa trong lúc ghen tuông chứ không có mục đích gây thương tích hay chiếm đoạt tài sản của chị N. Ngày 22/7/2024, chị N có đơn xin rút đơn trình báo đối với những hành vi của Nguyễn Quang Đ gây ra cho chị N và không yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Cơ quan điều tra đã mời anh Nguyễn Viết D1 đến làm việc. Anh Duy đã có đơn trình báo theo quy định và đề nghị xử lý Đ theo pháp luật.
Trong quá trình xảy ra vụ việc Nguyễn Quang Đ dùng dao đe dọa, chị N dùng khay inox đập về phía Đ, nhưng Đ dùng tay đỡ được. Đ và chị N đều không bị thương tích gì. Ngày 26/7/2024, Cơ quan Điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích của chị N và Đ, nhưng chị N và Đ đều từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu đề nghị gì.
Cơ quan Điều tra đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc điện thoại của chị N bị Đ làm hư hỏng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 117 ngày 10/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T kết luận:
“1. Chi phí sửa chữa, thay thế màn hình cảm ứng bị nứt, vỡ của điện thoại di động nhãn hiệu Realme C12, Ram 3Gb, bộ nhớ 32Gb màu xanh là 450.000 đồng.
2.Giá trị thực tế sau khi bị vỡ màn hình cảm ứng của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C12, Ram 3Gb, bộ nhớ 32Gb màu xanh là 400.000 đồng.”.
Đối với hành vi Cố ý làm hư hỏng chiếc điện thoại Realme C12 màu xanh trị giá 450.000 đồng, do giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng, bản thân Đ chưa có tiền án tiền sự nên hành vi của Đ chưa đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Ngày 20/9/2024, Công an huyện T ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Quang Đ.
Đối với hành vi Nguyễn Quang Đại tự Ý chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị N, quá trình điều tra thể hiện Đại không có ý thức chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị N, chị N khi bị lấy điện thoại không bị đe dọa, không ngăn cản khi Đ lấy điện thoại và chị N không yêu cầu, đề nghị về hành vi của Đ do đó Cơ quan Điều tra không đề cập xử lý.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C12 màu xanh là tài sản của chị N nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại chiếc điện thoại cho chị N. Chị N không yêu cầu, đề nghị gì về phần hư hỏng của chiếc điện thoại.
Về dân sự: chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Viết D1 không đề nghị về việc giải quyết bồi thường về tổn thất tinh thần, danh dự, nhân phẩm do hành vi của Đ gây ra.
Tại bản cáo trạng số 205/CT-VKS-TT ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Nguyễn Quang Đ phạm tội “Làm nhục người khác” theo điểm b, e Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại không yêu cầu gì về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Quang Đ theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 205/CT-VKS-TT ngày 02/10/2024 và đề nghị áp dụng điểm b, e Khoản 2 Điều 155, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Dân sự: không; Vật chứng: Tịch thu sung công 01 điện thoại Samsung J4; trả lại chị N 01 con dao chuôi gỗ chiều dài 31cm; 01 con dao chuôi gỗ dài 29cm; 01 con dao chiều dài 24,5cm, 01 con dao chuôi gỗ màu đen chiều dài 40,5cm; 01 khay inox.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Khoảng đêm ngày 21/7/2024 và rạng sáng ngày 22/7/2024, tại nhà của Đ ở Cụm 9, thôn V, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội, do mâu thuẫn ghen tuông trong chuyện tình cảm, Nguyễn Quang Đ đã tự ý dùng điện thoại của chị Nguyễn Thị N truy cập vào mạng xã hội để đăng hình ảnh nhạy cảm của chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Viết D1 lên Facebook của chị Nguyễn Thị N; nhắn tin, gửi ảnh khỏa thân của Chị N và anh D1 cho người thân của chị N nhằm làm nhục chị N, gây ảnh hưởng đến tâm lý, danh dự, sức khỏe của chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Viết D1. Hành vi của Đ đã xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Viết D1.
Hành vi của Nguyễn Quang Đ đã phạm vào tội “Làm nhục người khác” tội danh và hình phạt quy định tại điểm b, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1986, trình độ văn hóa 12/12, bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết việc phát tán hình ảnh nhậy cảm, khỏa thân của người khác lên trên mạng xã hội sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người bị hại. Nhưng xuất phát từ mục đính làm nhục người khác do việc ghen tuông, bị cáo đã tự ý đăng lên mạng xã hội và gửi các hình ảnh nhậy cảm của người bị hại cho gia đình, người thân của họ. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi chủ quan, cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, xâm hại nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm hại đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam 04 tháng 02 ngày. Xét thấy bị cáo chỉ đăng 01 ảnh chị N và anh D1 ôm nhau vẫn mặc áo lên mạng xã hội, còn 02 ảnh chị N và anh D1 không mặc áo ôm nhau thì bị cáo chỉ gửi cho con và thông gia của chị N nên mức độ phát tán, ảnh hưởng không lớn. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, 01 tình tiết giảm nhẹ về nhân thân theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên nhận thấy thời giam tạm giữ, tạm giam của bị cáo cũng phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo mức án bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam của bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về 01 tội khác. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Dân sự, Tang vật vụ án và án phí:
Dân sự: Chị N và anh D1 không có yêu cầu gì về dân sự nên không xét.
Tang vật: Đối với 01 điện thoại Samsung J4 của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo; đối với 04 con dao và 01 khay inox là tài sản của chị N và không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho chị N.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Quang Đ – sinh năm 1986
Phạm tội “Làm nhục người khác”
Căn cứ: điểm b, e khoản 2 Điều 155; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự. Khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Quang Đ 04 (Bốn) tháng, 02 (Hai) ngày tù về tội “Làm nhục người khác”. Hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam: 23/7/2024.
Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Quang Đ ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội khác.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo.
Dân sự: không
Vật chứng: Đối với số vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/10/2024 được xử lý như sau:
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang Đ 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung J4
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị N 01 con dao chuôi gỗ chiều dài 31cm; 01 con dao chuôi gỗ dài 29cm; 01 con dao chiều dài 24,5cm, 01 con dao chuôi gỗ màu đen chiều dài 40,5cm; 01 khay inox.
Bị cáo Nguyễn Quang Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Nguyễn Thị N có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Viết D1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Nơi nhận bản án:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hải |
Bản án số 237/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (làm nhục người khác)
- Số bản án: 237/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm nhục người khác)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Làm nhục người khác
