Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 237/2024/HSST

Ngày: 07 -11 - 2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Bính .

2. Bà: Lê Thị Kiều Thu.

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thanh Trúc, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 201/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 289/2024/QĐXXST – HS ngày 08/10/2024, đối với các bị cáo:

1. Phạm Ngọc Thái H. Giới tính: N, T gọi khác: Sùng; Sinh ngày 29/9/2005 tại tỉnh Bình Thuận; HKTT: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Phạm Ngọc M, sinh năm 1983, nghề nghiệp: Lao động biển; Con bà: Võ Thị T1, sinh năm 1984, nghề nghiệp: Nội trợ, Cùng trú tại: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 04/8/2024, đến ngày 13/8/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P “Có mặt”.

2. Phạm Đăng K. Giới tính: N, T gọi khác: Cáo; Sinh ngày 05/11/2006 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi ở: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Đỗ Văn C, sinh năm 1987, nghề nghiệp: Không rõ; Con bà: Phạm Thị Nhật H1, sinh năm 1991, nghề nghiệp: Nội trợ; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 04/8/2024, đến ngày 13/8/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P “có mặt”.

*/Người bị hại:

Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1960 ( có đơn xử vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

*/Người làm chứng:

1/Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2/Bà Hồ Thị Diệu M1, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 03/8/2024, do thiếu tiền tiêu xài nên Phạm Ngọc Thái H rủ Phạm Đăng K đi bộ quanh các tuyến đường thuộc khu phố A, phường M, thành phố P tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt thì K đồng ý. Khi H và K đi ngang qua nhà bà Trần Thị N1 (sinh năm 1963, trú tại khu phố A, phường M, thành phố P) thì thấy ông Nguyễn Ngọc S (sinh năm 1960, trú tại số F M, phường D, thành phố V; tạm trú tại khu phố B, phường M, thành phố P) là anh trai của bà N1 đang nằm sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy S9+, xung quanh không có ai khác nên H và K nảy sinh ý định cướp giật tài sản của ông S. Sau đó, K đứng ở cổng cảnh giới còn H tiếp cận từ phía sau ông S rồi bất ngờ dùng tay giật chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9+ trên tay ông S sau đó K và H nhanh chóng chạy bộ tẩu thoát. Sau đó, H tháo chiếc ốp lưng điện thoại (loại nhựa dẻo) vứt ở bãi đất trống, tháo sim điện thoại rồi chôn chiếc điện thoại di động vừa chiếm đoạt xuống đất, cởi chiếc áo thun màu đỏ đang mặc để lên vị trí chôn đánh dấu rồi cầm chiếc sim điện thoại cùng K đi về nhà thay quần áo. Khoảng 10 phút sau, H đi bộ lên vị trí đã chôn chiếc điện thoại trước đó, lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi cùng K đến tìm Nguyễn Văn Q (sinh năm 1986, trú tại khu phố A, phường M, thành phố P) để bán. Khi gặp Q, H đưa cho Q xem chiếc điện thoại di động hiệu S1 S9+ thì Q đồng ý mua lại với giá 400.000 đồng. Sau đó, H mua 200.000 đồng ma túy đá về cùng K sử dụng, còn lại 200.000 đồng H cất giữ.

Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, ông Nguyễn Ngọc S đã đến Công an phường M trình báo vụ việc. Qua truy xét, Công an phường M xác định Phạm Ngọc Thái H và Phạm Đăng K là các đối tượng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông S nên đã mời H và K về trụ sở để làm việc.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, chị Phạm Thị Ngọc X (sinh năm 1978, trú tại khu phố A, phường M, thành phố P) là cô của H biết việc H cướp giật tài sản bán cho Q nên đã chuộc lại chiếc điện thoại nêu trên từ Q và giao nộp lại cho Công an phường M.

Quá trình điều tra, H và K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Nguyễn Văn Q khai khi mua điện thoại của H và K không biết là tài sản do H và K phạm tội mà có.

Vật chứng của vụ án:

- Thu giữ từ Phạm Ngọc Thái H:

  • + 01 áo thun ngắn tay màu đỏ;
  • + 01 ốp lưng điện thoại di động (loại nhựa dẻo, trong suốt);
  • + 01 sim điện thoại vinaphone số 0680.343.xxx;
  • + 02 tờ tiền VNĐ, loại tiền Polime, mệnh giá 100.000 đồng (tiền H bán chiếc điện thoại vừa cướp giật được còn lại chưa tiêu xài);

- Thu giữ từ Phạm Thị Ngọc X:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9+ màu đen, số Seri: R58K34JTM5L, số Imei: 355331090092230, số Imei 2: 355332090092238;

- Tại kết luận định giá tài sản số 160/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P kết luận:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9+ màu đen, số Seri: R58K34JTM5L, số Imei: 355331090092230, số Imei 2: 355332090092238 trị giá 2.100.000 đồng;
  • + 01 ốp lưng điện thoại di động (loại nhựa dẻo, trong suốt): không có giá trị mua bán nên không có cơ sở xác định giá trị tài sản.

Xử lý vật chứng và dân sự:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9+ màu đen, số Seri: R58K34JTM5L, số Imei: 355331090092230, số Imei 2: 355332090092238; 01 ốp lưng điện thoại di động (loại nhựa dẻo, trong suốt); 01 sim điện thoại vinaphone số 0680.343.xxx là tài sản của ông Nguyễn Ngọc S. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại các tài sản trên cho ông S. Sau khi nhận tài sản, ông S không yêu cầu H và K bồi thường gì về dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H và K.

- Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đỏ và 02 tờ tiền VNĐ, loại tiền Polime, mệnh giá 100.000 đồng là vật chứng của vụ án, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 198/CT – VKSPT -HS ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố Phạm Ngọc Thái H, Phạm Đăng K về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 01 Điều 171; điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng khoản 01 Điều 171; điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51, Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo K mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

Các bị cáo thấy hành vi phạm tội là sai mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 20 giờ ngày 03/8/2024, tại nhà bà Trần Thị N1 ở khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo Phạm Đăng K đã có hành vi đứng cảnh giới cho bị cáo Phạm Ngọc Thái H nhanh chóng tiếp cận, giật 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9+ có gắn 01 ốp lưng điện thoại có tổng giá trị là 2.100.000 đồng của ông Nguyễn Ngọc S rồi cả hai nhanh chóng tẩu thoát.

Xét thấy, các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi công khai chiếm đoạt tài sản và tẩu thoát một cách nhanh chóng đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được qui định tại khoản 01 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy, các bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nặng nhọc nên các bị cáo đã có hành vi tiếp cận bị hại để cướp giật tài sản của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát, bất chấp hậu quả xảy ra. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới.

[3] Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 01 khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, xem xét nhân thân các bị cáo, xét thấy nên cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

Đối với bị cáo Phạm Đăng K khi phạm tội là người chưa thành niên nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 01 Điều 101 bộ luật hình sự.

[4] Biện pháp tư pháp:

Bồi thường thiệt hại: bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

Xử lý vật chứng: đối với 01 áo thun ngắn tay màu đỏ thu giữ của bị cáo H, bị cáo H không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 02 tờ tiền VNĐ, loại tiền Polime, mệnh giá 100.000 đồng thu giữ của bị cáo H là tiền phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với Nguyễn Văn Q là người đã mua lại chiếc điện thoại di động của H và K nhưng không biết chiếc điện thoại trên là tài sản do H và K phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Q về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

Bị cáo H và K mua ma túy từ tiền bán điện thoại cướp giật của ông S để sử dụng, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của H và K hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P xử lý trong một vụ án khác.

[5]Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 02 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

*Căn cứ: khoản 01 Điều 171; điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.

*Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc Thái H phạm tội “Cướp giật tài sản ”.

*Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc Thái H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/8/2024.

*Căn cứ: khoản 01 Điều 171; điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51, khoản 01 Điều 101 Bộ luật hình sự.

*Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đăng K phạm tội “Cướp giật tài sản ”.

*Xử phạt: Bị cáo Phạm Đăng K 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/8/2024.

*Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b khoản 01 Điều 47; điểm b, c khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

T2 tịch thu tiêu huỷ 01 áo thun ngắn tay màu đỏ.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 02 tờ tiền VNĐ, loại tiền Polime, mệnh giá 100.000 đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 193 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 08/10/2024 của Ngân hàng TMCP N2 – Chi nhánh B).

* Về án phí: aùp duïng khoản 02 Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Bị cáo Phạm Ngọc Thái H, Phạm Đăng K mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/11/2024). Quyền kháng cáo của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận

SƠ THẨM

  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • PHIÊN TÒA
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2024/HSST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 237/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger