Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 237/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 7 - 2024.

“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành và bà Bùi Thị Hoa.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 165/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 214/2024/QÐST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vi Thị H, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm: 1987; công tác tại: Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Kim Văn T, sinh năm 1985; Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Hiện đã xuất cảnh. Vắng mặt không rõ lý do.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị L, sinh năm: 1962, địa chỉ: Xóm C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ nguyên đơn chị Vi Thị H trình bày: Chị Vi Thị H và anh Kim Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 20/4/2011 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thời gian ban đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, vợ chồng bảo nhau làm ăn. Do điều kiện kinh tế tháng 11/2012, anh T đi lao động tại nước ngoài, trong suốt 12 năm qua, anh T chưa 01 lần về thăm gia đình, vợ con lần nào, do vợ chồng xa cách nhau về mặt địa lý nên thường xuyên cãi nhau qua điện thoại về việc kinh tế của gia đình và nuôi dạy con. Vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không thống nhất từ quan điểm, cách sống, vợ chồng không còn thương yêu, không còn tôn trọng nhau. Quá trình chung sống mâu thuẫn của 02 vợ chồng đã được hai bên gia đình can thiệp, hòa giải tuy nhiên tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không có sự cải thiện. Nay chị H xét thấy không còn tình cảm với anh T nữa và mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể khắc phục nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim Văn T.

Về con chung: Chị Vi Thị H và anh Kim Văn T có 01 con chung là Kim Minh Q, sinh ngày 13/07/2011. Hiện con chung đang ở với bà Lê Thị L. Nếu ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Kim Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do tính chất công việc và đi lại khó khăn nên chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt chị.

Bị đơn anh Kim Văn T: Do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Vi Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho mẹ của anh Kim Văn T là bà Lê Thị L thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để bà thông báo cho anh T và đề nghị anh T nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị H. Bà Lê Thị L cho biết: Hiện anh T đã đi xuất khẩu lao động, sinh sống, làm việc tại Nga và thỉnh thoảng liên lạc về với bà qua mạng xã hội. Tuy nhiên, bà L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài cho Tòa án biết. Theo bà L trình bày anh T không có ý kiến gì và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của anh T trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh T không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L: Bà Lê Thị L không yêu cầu chị H phải thanh toán chi phí nuôi dưỡng cháu Kim Minh Q trong thời gian bà Lê Thị L nuôi cháu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn vắng mặt nên không có phần trình bày.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, việc thu thập chứng cứ Tòa án thực hiện đúng các quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vi Thị H; cho chị H được ly hôn anh Kim Văn T.

- Về con chung: Đề nghị giao 01 con chung là Kim Minh Q, sinh ngày 13/07/2011 cho chị Vi Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Bà Lê Thị L không yêu cầu chị H thanh toán chi phí nuôi dưỡng cháu Kim Minh Q trong thời gian bà nuôi cháu Kim Minh Q nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Chị Vi Thị H phải chịu án phí theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vi Thị H hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim Văn T hiện cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh T có địa chỉ cư trú tại xóm C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
  2. Về thủ tục tố tụng: Anh Kim Văn T hiện đang ở Nga, không có địa chỉ cụ thể. Bà Lê Thị L (mẹ đẻ của anh Kim Văn T) đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật, đồng thời yêu cầu bà Lê Thị Long C cấp địa chỉ cụ thể của anh T ở Nga nhưng bà L không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh T trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Nguyên đơn chị Vi Thị H và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn anh Kim Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

  3. Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị H và anh Kim Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian ngắn thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, hai bên xa cách không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng tồn tại chỉ là hình thức. Chị Vi Thị H có nguyện vọng được ly hôn với anh Kim Văn T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Vi Thị H và anh Kim Văn T không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vi Thị H được ly hôn với anh Kim Văn T theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
    2. Về con chung: Chị Vi Thị H và anh Kim Văn T có 01 con chung là cháu Kim Minh Q, sinh ngày 13/7/2011, hiện cháu đang ở với bà Lê Thị L. Nay anh T đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chưa có ý kiến. Chị H đang ở Việt Nam có nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, giao con chung là cháu Kim Minh Q cho chị Vi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

      Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Vi Thị H không yêu cầu anh Kim Văn T phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

      Trong thời gian sống ly thân thì cháu Kim Minh Q sống với bà Lê Thị L, bà L không có yêu cầu chị H thanh toán các khoản chi phí nuôi dưỡng cháu Kim Minh Q nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vi Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
  4. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Vi Thị H phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; 122; Điều 123; Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 228; Điều 479 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị H. Chị Vi Thị H được ly hôn anh Kim Văn T.
  2. Về nuôi con chung:
    1. Giao con chung là cháu Kim Minh Q, sinh ngày 13/7/2011 cho chị Vi Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ 18 tuổi, trưởng thành.
    2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vi Thị H không yêu cầu và anh Kim Văn T chưa có ý kiến gì nên miễn xét.

      Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

      Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Vi Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0007116 ngày 06 tháng 10 năm 2023.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Vi Thị H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, anh Kim Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Xuân Thành Bùi Thị H1

Nguyễn Anh S

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 237/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger