|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 237/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình, ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Chúng và ông Huỳnh Trường Huân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 124/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 258/2024/QĐXXST-HN ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 310/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ C, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ C, ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh A;
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà C có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Huỳnh Thị Mỹ C trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông Nguyễn Văn T do mai mối và tiến đến hôn nhân vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 105 ngày 02/8/2017. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bà mang thai con thứ 02 (hai) thì gia đình ông T kêu bỏ thai nhưng bà không đồng ý, ông T cũng nghe lời cha mẹ ruột nên hôn nhân thường xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung. Từ lúc bà sinh con thứ 02 (hai) vào năm 2019 thì về nhà cha mẹ ruột sống và ly thân với ông T cho đến nay, trong thời gian ly thân ông T và gia đình không có ý định hàn gắn, không cho bà thăm nom con lớn và cũng không tới lui thăm con thứ 02 (hai). Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà C nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Việc bà yêu cầu ly hôn thì ông T cũng biết nhưng không chịu đến Tòa.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/10/2017 và cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 21/8/2019. Hiện cháu Nguyễn Văn H đang sống với ông T và cháu Nguyễn Văn T1 đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà đồng ý cho ông T được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Văn H và bà xin không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà yêu cầu nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn T1 và cũng không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì ông T vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.
Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.
Biên bản lấy lời khai ngày 07/5/2024, người thân bà C cung cấp: Bà C và ông T do mai mối tiến đến hôn nhân. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau mà nguyên nhân do C mang thai con thứ 02 (hai) thì gia đình ông T sợ gánh nặng kêu bỏ T2, ông T lại nghe lời cha mẹ ruột, hai bên ly thân từ khoảng năm 2019 cho đến nay, nên theo bà khả năng hàn gắn là không thể; về con chung thì có 02 (hai) con chung, cháu H đang sống với ông T và cháu T1 đang sống với bà C; tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.
Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an xã V cung cấp ngày 07/5/2024, ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1990, nơi thường trú ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Tại phiên toà: Bà C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của bà C, ông T có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/10/2017 và cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 21/8/2019. Hiện cháu H đang sống với ông T và cháu T1 đang sống với bà C. Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục để ông T nuôi dạy cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/10/2017, chấp nhận yêu cầu của bà C, giao con chung cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 21/8/2019 cho bà C được tiếp tục nuôi dạy. Công nhận sự tự nguyện của bà C về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nếu sau này ông T có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị Mỹ C yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Ông T cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông T theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân của bà C, ông T do mai mối tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 105 ngày 02/8/2017 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà C xin ly hôn với ông T, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà C, ông T phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên mới sống ly thân. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông T không có mặt để hàn gắn tình cảm. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình bà C, nên yêu cầu ly hôn của bà C là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung:
Có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/10/2017 và cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 21/8/2019. Hiện cháu Nguyễn Văn H đang sống với ông T và cháu Nguyễn Văn T1 đang sống với bà C. Do cháu H đã sống quen cùng ông T, cháu T1 đã sống quen cùng bà C. Để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý đối với các con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử tiếp tục để ông T nuôi dạy cháu H còn bà C nuôi dạy cháu T1.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông T vắng mặt nên không xác định được yêu cầu của ông T, sau này ông T có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung thì giải quyết bằng một vụ án khác. Riêng bà C không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà C xác định không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Bà C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỹ C.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Mỹ C được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Về con chung:
Ông Nguyễn Văn T được tiếp tục nuôi dạy 01 (một) con chung tên Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/10/2017.
Bà Huỳnh Thị Mỹ C được tiếp tục nuôi dạy 01 (một) con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 21/8/2019.
Ông T, bà C không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông T, bà C cùng các thành viên gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con chung của nhau. Ông T, bà C và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mỹ C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà bà C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0009393 ngày 09/4/2024. Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Chúc Phương |
Bản án số 237/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 237/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
