Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 237/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai

Ông Nguyễn Hữu Đệ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng– Cán bộ Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 14/5/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 147/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2024 về việc : Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tô Thị C, sinh năm 2001; nơi cư trú: Khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Lê Quang L, sinh năm 1992; nơi đăng ký thường trú: Khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; hiện đang chấp hành án tại: P, Trại giam P – Bộ C1.

Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn là chị Tô Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Quang L kết hôn năm 2020, trước khi kết hôn, anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 22/7/2020. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại khu E, thôn T, xã T cùng gia đình anh L. Quá trình chung sống đến tháng 6 năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh L ham chơi không chăm lo gia đình. Sau khi anh L bị bắt về hành vi đánh bạc vào ngày 26 tháng 6 năm 2023 thì chị và con về nhà ngoại ở. Đến tháng 12 năm 2023, anh L bị bắt đi chấp hành án và hiện đang chấp hành án tại Trại giam P. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bản thân chị và gia đình hai bên đã khuyên giải anh L nhiều lần nhưng anh L không thay đổi. Vì vậy chị yêu cầu ly hôn anh L.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lê Anh Đ, sinh 28/6/2021. Hiện nay cháu Đ đang ở với chị tại nhà ông bà ngoại; sức khỏe của cháu tốt, phát triển bình thường. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị làm cộng tác viên của Ngân hàng thương mại cổ phần T, thu nhập trung bình 7.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Chị và anh L không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Quang L trình bày:

Anh và chị Tô Thị C kết hôn năm 2020, trước khi kết hôn, anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 22/7/2020. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại khu E, thôn T, xã T cùng gia đình anh. Quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Đến tháng 6 năm 2023 anh bị bắt về hành vi đánh bạc, tháng 12 năm 2023, anh đi chấp hành án tại Trại giam P. Trước khi anh đi chấp hành án vợ chồng đã ly thân, chị C cùng con về nhà ngoại ở. Từ khi anh đi chấp hành án đến nay, chưa khi nào chị C lên thăm anh. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị C yêu cầu ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lê Anh Đ, sinh 28/6/2021. Hiện nay cháu Đ đang ở với chị C tại nhà ông bà ngoại; sức khỏe của cháu tốt, phát triển bình thường. Ly hôn, anh đồng ý để chị C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Anh xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh đang chấp hành án tại Trại giam P nên không thể đến Tòa án làm việc, anh xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và tại phiên tòa.

Tại phiên tòa: Các đương sự đều xin vắng mặt, giữ nguyên lời khai và yêu cầu của mình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh về việc giải quyết vụ án:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tô Thị C với anh Lê Quang L.

Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Anh Đ, sinh 28/6/2021 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng. Không giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không có yêu cầu.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết do đương sự không yêu cầu.

Về án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Tô Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Quang L đăng ký thường trú tại khu G, thôn T, xã T, huyện Đ. Như vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị C và anh L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với tất cả các đương sự theo thủ tục chung quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh L: Anh chị kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 22/7/2020 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C với anh L:

Về quá trình chung sống và mâu thuẫn: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại khu G, thôn T, xã T. Quá trình chung sống, đến tháng 6 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L đánh bạc và bị bắt rồi phải đi chấp hành án. Anh chị đều xác định vợ chồng ly thân từ tháng 12 năm 2023. Chị C xin ly hôn, anh L đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định giữa hai bên vợ chồng không còn tình cảm nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tô Thị C với anh Lê Quang L để các bên ổn định cuộc sống riêng.

[4] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Lê Anh Đ, sinh 28/6/2021. Hiện nay cháu Đ đang ở với chị C, anh L đang phải chấp hành án, anh chị đều có quan điểm sau khi ly hôn để chị C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ. Vì vậy giao con chung cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và nguyện vọng của các bên. Về cấp dưỡng nuôi con, các bên không yêu cầu nên Tòa án không phải xem xét, giải quyết. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình

[5] Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Các bên đều xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí: Chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh về đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tô Thị C với anh Lê Quang L. Chị Tô Thị C được ly hôn anh Lê Quang L.
  2. Hôn nhân chấm dứt kể từ khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật.

  3. Về con chung: Xác định chị Tô Thị C và anh Lê Quang L có 01 con chung là cháu Lê Anh Đ, sinh 28/6/2021.
  4. Giao con chung cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên hoặc đến khi có quyết định khác của Tòa án.

    Về cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

    Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  5. Về án phí: Chị Tô Thị C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0017178 ngày 25/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Chị C đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Đông Anh;
  • - UBND xã Thụy Lâm, H. Đông Anh, TP. Hà Nội số 40 ngày 22/7/2020;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Quang Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 237/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử vụ án về hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger